Bối cảnh ban hành và phạm vi điều chỉnh
Ngày 24/8/2026, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Nghị quyết số 37/2026/QH16, thiết lập cơ chế, chính sách đặc thù nhằm xử lý các vi phạm pháp luật phát sinh trong lĩnh vực kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, cũng như trong hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Một trong những nội dung trọng tâm của văn bản này là quy định về các trường hợp cơ quan có thẩm quyền được phép không khởi tố vụ án hình sự đối với hành vi vi phạm liên quan đến kinh tế, thay vì áp dụng ngay chế tài hình sự như cách tiếp cận trước đây.
Quy định này phản ánh chủ trương phân biệt rạch ròi giữa những vi phạm mang tính chất tham nhũng, trục lợi cá nhân với những rủi ro, sai sót phát sinh trong quá trình thử nghiệm, đổi mới, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội chung.
Minh họa: Hình sự & an toàn pháp lý — Ảnh: The Tribune / SEARCH Foundation · CC BY 4.0
Căn cứ để cơ quan điều tra không khởi tố vụ án hình sự
Khoản 1 Điều 9 Nghị quyết 37/2026/QH16 quy định: trong giai đoạn xử lý, xác minh nguồn tin về tội phạm, nếu xét thấy vụ việc hội đủ các điều kiện được nêu tại Điều 5 hoặc Điều 6 của Nghị quyết, thì Cơ quan điều tra có thẩm quyền ban hành quyết định không khởi tố vụ án hình sự. Đây là cơ chế cho phép dừng quy trình tố tụng hình sự ngay từ giai đoạn tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác tội phạm, trước khi vụ án chính thức được khởi tố, qua đó tránh việc hình sự hóa những hành vi không có yếu tố tham nhũng hoặc trục lợi.
Nhóm điều kiện theo Điều 5: không truy cứu trách nhiệm hình sự
Điều 5 của Nghị quyết liệt kê năm nhóm điều kiện mà nếu đồng thời được thỏa mãn, hành vi vi phạm liên quan đến kinh tế sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự:
- Chủ thể thực hiện hành vi không có yếu tố tham nhũng, không trục lợi cho cá nhân;
- Mục đích của hành vi hướng đến lợi ích chung, lợi ích của tập thể, của địa phương hoặc đất nước, không nhằm mục đích tư lợi;
- Các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh, hoặc việc ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số có liên quan đã được triển khai hoàn tất và trên thực tế đã mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội tích cực cho địa phương hoặc cho đất nước;
- Không phát sinh khiếu nại, tố cáo liên quan đến vụ việc; hoặc trường hợp có khiếu nại, tố cáo thì đã được cơ quan có thẩm quyền giải quyết dứt điểm, triệt để;
- Không để xảy ra tình trạng thất thoát, lãng phí tài sản; nếu có thiệt hại phát sinh thì hậu quả đó đã được khắc phục đầy đủ, toàn diện.
Về nguyên tắc, chỉ khi toàn bộ năm điều kiện nêu trên cùng được đáp ứng, cơ quan tố tụng mới có cơ sở pháp lý để không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi vi phạm; thiếu một trong các điều kiện này thì cơ chế không khởi tố sẽ không được áp dụng.
Nhóm điều kiện theo Điều 6: loại trừ trách nhiệm hình sự trong ứng dụng khoa học - công nghệ
Khác với Điều 5 áp dụng chung cho lĩnh vực kinh tế, Điều 6 của Nghị quyết hướng riêng đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự cho người gây ra thiệt hại trong quá trình ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, được chia thành hai nhóm tình huống cụ thể sau đây.
Nhóm thứ nhất là trường hợp thiệt hại phát sinh do rủi ro khách quan trong quá trình ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Nếu người thực hiện đã tuân thủ đúng và đầy đủ quy trình, quy định hiện hành, đồng thời đã áp dụng các biện pháp phòng ngừa cần thiết trước khi xảy ra thiệt hại, thì trách nhiệm hình sự đối với thiệt hại đó được loại trừ.
Nhóm thứ hai là trường hợp người thi hành công vụ, thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao mà gây ra thiệt hại trong bối cảnh pháp luật chưa có quy định điều chỉnh cụ thể, hoặc giữa các quy định pháp luật hiện hành tồn tại sự chồng chéo, mâu thuẫn, nhưng việc thực hiện xuất phát từ yêu cầu cấp bách, thiết yếu của thực tiễn công tác. Trong trường hợp này, trách nhiệm hình sự cũng được loại trừ, với điều kiện người thực hiện phải đồng thời đáp ứng các yêu cầu tương tự như quy định tại Điều 5: không có yếu tố tham nhũng, hành vi vì lợi ích chung, và công việc đã hoàn thành mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội thiết thực.
Trình tự xem xét, áp dụng trên thực tế
Việc xem xét áp dụng cơ chế không khởi tố vụ án hình sự theo Nghị quyết 37/2026/QH16 thường được tiến hành qua các bước cơ bản sau:
- Cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận và tiến hành xác minh nguồn tin về tội phạm có dấu hiệu liên quan đến vi phạm trong lĩnh vực kinh tế, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
- Rà soát, đối chiếu nội dung vụ việc với từng điều kiện cụ thể được quy định tại Điều 5 và Điều 6 của Nghị quyết để xác định mức độ đáp ứng.
- Trên cơ sở kết quả rà soát, nếu xác định vụ việc hội đủ điều kiện, Cơ quan điều tra ban hành quyết định không khởi tố vụ án hình sự theo thẩm quyền.
- Các bước xử lý tiếp theo, nếu phát sinh, được thực hiện theo quy định chung của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành.
Hiệu lực thi hành và thời hạn áp dụng
Cơ chế không khởi tố, loại trừ trách nhiệm hình sự nêu trên chính thức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/9/2026 và được áp dụng trong thời hạn 03 năm kể từ thời điểm này. Đối với các quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đã được ban hành trong khoảng thời gian nêu trên, sau khi hết thời hạn 03 năm áp dụng, việc xử lý tiếp theo đối với những quyết định này vẫn tiếp tục được thực hiện theo các quy định của Nghị quyết 37/2026/QH16 cho đến khi vụ việc được giải quyết xong, bảo đảm tính liên tục, thống nhất trong quá trình áp dụng.
Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Để được tư vấn cụ thể cho từng trường hợp, vui lòng liên hệ với Luật An Dân Việt hoặc cơ quan có thẩm quyền.