Cơ sở pháp lý
-
Luật Bảo hiểm xã hội số 58/2014/QH13 ngày 20/11/2014 (có hiệu lực từ 01/01/2016), Điều 85 quy định người lao động đóng bảo hiểm xã hội với mức 8% tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội.
-
Luật Việc làm số 10/2013/QH13 ngày 16/11/2013, Điều 43 quy định người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp với mức 1% tiền lương tháng.
-
Luật Bảo hiểm y tế số 25/2008/QH12, được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 46/2014/QH13, quy định mức đóng bảo hiểm y tế của người lao động là 1,5% tiền lương.
-
Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12, được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 26/2012/QH13, quy định về thu nhập chịu thuế, giảm trừ gia cảnh và biểu thuế lũy tiến từng phần.
-
Nghị định số 115/2015/NĐ-CP ngày 11/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội bắt buộc.
-
Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13, các điều quy định về tiền lương và khấu trừ tiền lương, trong đó giới hạn mức khấu trừ tiền lương hằng tháng của người lao động.
Nội dung chi tiết
Khi nhận lương, người lao động thường thấy bảng lương ghi các khoản bị trừ. Khoản đầu tiên là trích đóng các loại bảo hiểm bắt buộc gồm bảo hiểm xã hội 8%, bảo hiểm y tế 1,5% và bảo hiểm thất nghiệp 1% tính trên tiền lương làm căn cứ đóng. Tổng cộng 10,5% tiền lương bị trừ để đóng bảo hiểm, phần còn lại do người sử dụng lao động đóng thêm theo tỷ lệ riêng của mình.
Minh họa: Lao động & việc làm — Ảnh: The government of the Democratic Republic · Public domain
Khoản thứ hai là thuế thu nhập cá nhân. Đây không phải khoản trừ cố định: người lao động chỉ bị khấu trừ thuế khi tổng thu nhập chịu thuế vượt quá mức giảm trừ gia cảnh và các khoản giảm trừ khác theo quy định. Thuế được tính theo biểu thuế lũy tiến từng phần, thu nhập càng cao thì thuế suất càng lớn, vì vậy không thể áp dụng một tỷ lệ chung cho mọi đối tượng.
Ngoài hai nhóm trên, người lao động có thể bị trừ các khoản khác như tạm ứng lương chưa hoàn ứng, bồi thường thiệt hại do làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị, hoặc các khoản trừ theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động và quy định nội bộ của công ty. Các khoản này phải có căn cứ rõ ràng, được thông báo trước và không trái với quy định pháp luật.
Pháp luật giới hạn mức khấu trừ: khoản khấu trừ để bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ luật Lao động không được vượt quá 30% tiền lương hằng tháng của người lao động. Nếu người sử dụng lao động trừ sai hoặc trừ quá mức cho phép, người lao động có quyền khiếu nại, yêu cầu hoàn trả khoản đã trừ không đúng.
Quy trình thực hiện
- Đối chiếu bảng lương hằng tháng với các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và thuế thu nhập cá nhân để kiểm tra tỷ lệ và số tiền trừ có chính xác hay không.
- Xác minh mức lương làm căn cứ đóng bảo hiểm có khớp với mức lương ghi trong hợp đồng lao động và thỏa thuận giữa hai bên.
- Yêu cầu công ty giải trình bằng văn bản nếu phát hiện khoản trừ lạ hoặc tỷ lệ trừ không đúng quy định.
- Đối chiếu sổ bảo hiểm xã hội hoặc ứng dụng VssID để kiểm tra quá trình đóng và số tiền đã trích nộp của mình.
- Khiếu nại lần lượt với người sử dụng lao động, sau đó với cơ quan quản lý nhà nước về lao động nếu không được giải quyết thỏa đáng.
- Tố cáo đến cơ quan thanh tra lao động, cơ quan bảo hiểm xã hội nếu phát hiện hành vi trừ lương sai, trốn đóng hoặc đóng thiếu bảo hiểm.
Lưu ý quan trọng
Tỷ lệ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp có thể thay đổi theo từng giai đoạn, vì vậy người lao động cần cập nhật theo văn bản pháp luật hiện hành thay vì chỉ dựa vào quy định cũ.
Người sử dụng lao động phải đóng phần bảo hiểm cao hơn người lao động, trong đó bảo hiểm xã hội là 17,5%, bảo hiểm y tế 3% và bảo hiểm thất nghiệp 1% tiền lương, tổng cộng phần đóng của người sử dụng lao động là 21,5% tiền lương làm căn cứ đóng.
Thuế thu nhập cá nhân tính căn cứ vào tổng thu nhập chịu thuế và các khoản giảm trừ gia cảnh cho bản thân, người phụ thuộc chứ không phải khoản trừ cố định theo tỷ lệ, vì vậy hai người cùng mức thu nhập có thể chịu mức thuế khác nhau.
Mức lương làm căn cứ đóng bảo hiểm tối đa không quá 20 lần lương cơ sở, phần thu nhập vượt mức này không phải trích đóng bảo hiểm bắt buộc.
Việc trừ lương phải có căn cứ pháp luật hoặc thỏa thuận hợp pháp; người lao động không nên im lặng chấp nhận khi bị trừ lương không rõ lý do, thiếu hóa đơn chứng từ.
Khi phát hiện khoản trừ sai, người lao động nên khiếu nại kịp thời, tránh để quá lâu làm khó khăn cho việc thu thập chứng cứ và bảo vệ quyền lợi của mình.
Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Để được tư vấn cụ thể cho từng trường hợp, vui lòng liên hệ với Luật An Dân Việt hoặc cơ quan có thẩm quyền.