Cơ sở pháp lý
-
Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 26/2012/QH13 ngày 22/11/2012 (sau đây gọi là Luật Thuế TNCN).
-
Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật Thuế TNCN, trong đó Điều 25 quy định về khấu trừ thuế; Thông tư cũng hướng dẫn về miễn thuế đối với phần thu nhập làm thêm giờ cao hơn so với mức trả trong giờ theo quy định của Bộ luật Lao động.
-
Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019, có hiệu lực từ ngày 01/01/2021, trong đó Điều 24, Điều 25 và Điều 26 quy định về thử việc, Điều 98 quy định về làm thêm giờ.
-
Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế về kê khai, khấu trừ và quyết toán thuế.
Nội dung chi tiết
Theo Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận về việc làm thử. Thời gian thử việc được xác định căn cứ vào tính chất, mức độ phức tạp của công việc nhưng phải bảo đảm không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên; không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề nghiệp cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật trung cấp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ; không quá 6 ngày làm việc đối với công việc khác. Trong thời gian thử việc, tiền lương do hai bên thỏa thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó.
Minh họa: Lao động & việc làm — Ảnh: Marinus van Reymerswaele · Public domain
Thu nhập từ tiền lương, tiền công là thu nhập chịu thuế TNCN theo quy định của Luật Thuế TNCN và Thông tư 111/2013/TT-BTC. Các khoản thu nhập người lao động nhận được trong thời gian thử việc, bao gồm tiền lương thử việc, tiền lương làm thêm giờ, tiền công và các khoản có tính chất tương tự, đều thuộc thu nhập chịu thuế TNCN.
Theo Điều 4 Luật Thuế TNCN và hướng dẫn tại Thông tư 111/2013/TT-BTC, phần tiền lương, tiền công làm thêm giờ được trả cao hơn so với tiền lương, tiền công làm việc trong giờ theo quy định của Bộ luật Lao động thì được miễn thuế TNCN. Như vậy, chỉ phần chênh lệch trả cao hơn mức trả bình thường trong giờ mới được miễn thuế; mức tiền lương làm việc trong giờ vẫn là thu nhập chịu thuế.
Theo Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC, tổ chức, cá nhân trả thu nhập thực hiện khấu trừ thuế trước khi trả thu nhập cho người lao động. Trường hợp người lao động ký hợp đồng lao động dưới 3 tháng hoặc không ký hợp đồng lao động mà có tổng mức trả thu nhập từ 2 triệu đồng/lần trở lên thì tổ chức chi trả khấu trừ thuế TNCN theo mức 10% trên thu nhập trước khi trả.
Trong kỳ thuế, tổ chức chi trả thu nhập có trách nhiệm kê khai, khấu trừ và nộp thuế TNCN theo quy định của Nghị định 126/2020/NĐ-CP. Cuối năm, người lao động có thể ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức chi trả hoặc trực tiếp quyết toán với cơ quan thuế để xác định số thuế phải nộp thêm hoặc số thuế được hoàn.
Quy trình thực hiện
- Xác định các khoản thu nhập người lao động nhận được trong thời gian thử việc, bao gồm tiền lương thử việc, tiền lương làm thêm giờ và các khoản phụ cấp, trợ cấp có tính chất tiền lương, tiền công.
- Tính tiền lương thử việc theo thỏa thuận nhưng bảo đảm ít nhất bằng 85% mức lương của công việc, đồng thời kiểm tra thời gian thử việc có phù hợp với nhóm công việc hay không.
- Xác định phần thu nhập làm thêm giờ được miễn thuế TNCN, cụ thể là phần trả cao hơn mức tiền lương làm việc trong giờ theo quy định.
- Thực hiện khấu trừ thuế TNCN với mức 10% nếu tổng thu nhập trả cho người lao động từ 2 triệu đồng/lần trở lên và thuộc trường hợp phải khấu trừ theo quy định.
- Kê khai thuế TNCN theo kỳ: tổ chức chi trả kê khai số thuế đã khấu trừ với cơ quan thuế theo quy định của Nghị định 126/2020/NĐ-CP.
- Cuối năm thực hiện quyết toán thuế: người lao động ủy quyền cho tổ chức chi trả quyết toán hoặc tự quyết toán trực tiếp với cơ quan thuế để xác định số thuế phải nộp hoặc số thuế được hoàn.
Lưu ý quan trọng
Tiền lương trong thời gian thử việc không được thấp hơn 85% mức lương của công việc thử việc; mọi thỏa thuận trả lương thấp hơn mức này đều không đúng quy định của Bộ luật Lao động 2019.
Phần thu nhập làm thêm giờ cao hơn mức trả trong giờ được miễn thuế TNCN nếu đáp ứng đủ điều kiện theo quy định tại Điều 4 Luật Thuế TNCN và Thông tư 111/2013/TT-BTC; người lao động cần lưu giữ tài liệu chứng minh số giờ làm thêm.
Tổ chức chi trả phải khấu trừ thuế TNCN 10% khi trả thu nhập từ 2 triệu đồng/lần trở lên cho người lao động trong thời gian thử việc; không được tự ý áp dụng mức khấu trừ khác khi không thuộc trường hợp được quy định.
Khi người lao động có yêu cầu, tổ chức chi trả có trách nhiệm cấp chứng từ khấu trừ thuế TNCN để người lao động sử dụng khi quyết toán thuế.
Quyết toán thuế cuối năm giúp người lao động xác định chính xác số thuế phải nộp thêm hoặc số thuế được hoàn, đặc biệt khi trong năm có nhiều khoản thu nhập hoặc làm việc tại nhiều nơi.
Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Để được tư vấn cụ thể cho từng trường hợp, vui lòng liên hệ với Luật An Dân Việt hoặc cơ quan có thẩm quyền.