Căn cứ pháp lý của hướng dẫn
Công văn số 7161/DTH-QLDN2 do Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp ban hành ngày 19/8/2026 đưa ra hướng dẫn về việc khấu trừ 10% thuế thu nhập cá nhân (TNCN) đối với khoản thu nhập chi trả cho người lao động sau khi hợp đồng lao động giữa hai bên đã chấm dứt. Nội dung hướng dẫn được xây dựng trên cơ sở đối chiếu với các quy định pháp luật hiện hành, cụ thể gồm:
- Khoản 2 Điều 3 và Điều 8 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025;
- Khoản 1 Điều 8, khoản 2 Điều 50 và điểm a khoản 1 Điều 69 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP.
Đây là những căn cứ trực tiếp làm cơ sở để cơ quan thuế địa phương trả lời vướng mắc của doanh nghiệp, đồng thời cũng là khung pháp lý mà tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập cần đối chiếu khi thực hiện nghĩa vụ khấu trừ thuế trong tình huống tương tự.
Minh họa: Hợp đồng & dân sự — Ảnh: Kirsten Gillibrand 2020 · Public domain
Bối cảnh phát sinh và nội dung hướng dẫn
Công văn 7161/DTH-QLDN2 được ban hành để giải đáp vướng mắc nêu tại văn bản số 785/VHC ngày 06/8/2026, xoay quanh việc xác định nghĩa vụ khấu trừ 10% thuế TNCN đối với khoản tiền lương được chi trả cho người lao động vào thời điểm hợp đồng lao động đã kết thúc trước đó.
Theo hướng dẫn của Cục Thuế tỉnh Đồng Tháp, bản chất khoản thu nhập mới là yếu tố quyết định nghĩa vụ thuế, chứ không phải tình trạng còn hay hết hiệu lực của hợp đồng lao động tại thời điểm chi trả. Cụ thể, mọi khoản thu nhập có nguồn gốc từ tiền lương, tiền công — bao gồm cả những khoản tuy không gọi tên là "lương" nhưng mang bản chất, tính chất của tiền lương, tiền công — đều thuộc diện chịu thuế TNCN theo quy định của Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025.
Trên cơ sở đó, đối với người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động mà vẫn còn khoản thu nhập được chi trả sau đó, tổ chức hoặc cá nhân trả thu nhập có trách nhiệm khấu trừ 10% thuế TNCN trước khi thanh toán, áp dụng cho mỗi lần chi trả từ 5 triệu đồng trở lên. Ngược lại, nếu mức chi trả mỗi lần dưới 5 triệu đồng, bên chi trả không bắt buộc phải khấu trừ ngay, nhưng vẫn có thể áp dụng khấu trừ theo tỷ lệ 10% trong trường hợp cá nhân nhận thu nhập chủ động đề nghị việc này.
Trình tự triển khai trên thực tế
Từ nội dung hướng dẫn nêu trên, tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng lao động có thể tham khảo trình tự thực hiện như sau:
- Xác định mức thu nhập chi trả: Rà soát cụ thể từng khoản, từng lần chi trả cho người lao động đã chấm dứt hợp đồng, làm căn cứ xác định có thuộc diện phải khấu trừ thuế hay không.
- Khấu trừ khi mức chi trả từ 5 triệu đồng/lần trở lên: Thực hiện khấu trừ 10% thuế TNCN ngay trước khi chi trả thu nhập thực tế cho cá nhân, không chờ đến kỳ quyết toán.
- Xử lý khi mức chi trả dưới 5 triệu đồng/lần: Chỉ khấu trừ khi cá nhân nhận thu nhập có văn bản cam kết, đề nghị được khấu trừ theo tỷ lệ 10%; nếu cá nhân không đề nghị, tổ chức chi trả không bắt buộc phải tự ý khấu trừ.
- Kê khai, nộp thuế đã khấu trừ: Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ kê khai và nộp số thuế TNCN đã khấu trừ vào ngân sách nhà nước, tuân thủ đúng thời hạn theo quy định của pháp luật quản lý thuế hiện hành.
Việc tuân thủ đúng trình tự nêu trên giúp tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập giảm thiểu rủi ro bị truy thu, xử phạt do khấu trừ thiếu, khấu trừ sai đối tượng hoặc chậm nộp thuế.
Trách nhiệm của các bên liên quan
Nghĩa vụ khấu trừ thuế TNCN không chỉ dừng lại ở việc tính đúng tỷ lệ 10% hay xác định đúng ngưỡng 5 triệu đồng/lần, mà còn gắn với trách nhiệm của cả bên chi trả lẫn bên nhận thu nhập trong việc bảo đảm tính trung thực của thông tin làm căn cứ khấu trừ.
Trường hợp cá nhân nhận thu nhập lập cam kết không trung thực — chẳng hạn cam kết không thuộc diện phải khấu trừ trong khi thực tế đủ điều kiện chịu thuế — nhằm né tránh việc bị khấu trừ, thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, cá nhân đó có thể phải chịu trách nhiệm theo quy định pháp luật về quản lý thuế. Đồng thời, tổ chức chi trả thu nhập, nếu không thực hiện đúng, đủ trách nhiệm khấu trừ theo hướng dẫn, cũng có thể liên đới chịu trách nhiệm tương ứng.
Vì vậy, để hạn chế rủi ro pháp lý phát sinh, tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập nên lưu ý một số điểm sau:
- Lưu giữ đầy đủ hồ sơ, chứng từ chi trả thu nhập và văn bản cam kết (nếu có) của người lao động đã chấm dứt hợp đồng, làm căn cứ đối chiếu khi cơ quan thuế yêu cầu.
- Theo dõi sát thời hạn kê khai, nộp thuế đã khấu trừ để tránh bị xử lý chậm nộp.
- Chủ động rà soát lại các khoản chi trả có tính chất tiền lương, tiền công phát sinh sau thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động, tránh bỏ sót nghĩa vụ khấu trừ đối với những khoản từ 5 triệu đồng/lần trở lên.
Ý nghĩa của hướng dẫn đối với thực tiễn áp dụng
Hướng dẫn tại Công văn 7161/DTH-QLDN2 góp phần làm rõ một tình huống khá phổ biến trong thực tiễn quản lý nhân sự và kế toán tại doanh nghiệp: việc chi trả thu nhập cho người lao động sau khi hợp đồng lao động đã chấm dứt, chẳng hạn như thanh toán các khoản còn lại, khoản thưởng, khoản hỗ trợ có tính chất tiền lương phát sinh sau thời điểm nghỉ việc.
Nhờ xác định rõ ngưỡng 5 triệu đồng/lần cùng cơ chế khấu trừ theo cam kết đối với khoản dưới ngưỡng này, doanh nghiệp có cơ sở thống nhất để áp dụng cho các trường hợp tương tự, thay vì phải xin ý kiến riêng lẻ cho từng tình huống phát sinh. Đồng thời, việc bám sát đúng các điều khoản của Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 và Nghị định số 253/2026/NĐ-CP cũng giúp bảo đảm tính thống nhất trong áp dụng pháp luật thuế giữa các địa phương, hạn chế tình trạng mỗi nơi hiểu và áp dụng một cách khác nhau đối với cùng một vấn đề.
Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Để được tư vấn cụ thể cho từng trường hợp, vui lòng liên hệ với Luật An Dân Việt hoặc cơ quan có thẩm quyền.