Hợp đồng & dân sự

Đề xuất hướng giải quyết tranh chấp bồi thường thiệt hại do trí tuệ nhân tạo gây ra

Đề xuất hướng giải quyết tranh chấp bồi thường thiệt hại do trí tuệ nhân tạo gây ra

Cơ sở pháp lý

Quốc hội đang lấy ý kiến dự thảo Luật Trí tuệ nhân tạo. Dự thảo Luật này đề xuất các quy định liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do trí tuệ nhân tạo gây ra, cụ thể tại Điều 44.

Nội dung chi tiết

Dự thảo Luật Trí tuệ nhân tạo đề xuất hướng giải quyết tranh chấp bồi thường thiệt hại do trí tuệ nhân tạo gây ra như sau:

  • Tổ chức, cá nhân vi phạm quy định về trí tuệ nhân tạo sẽ bị xử lý theo Luật Xử lý vi phạm hành chính, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự và các quy định pháp luật liên quan, tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả.
  • Đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao, nhà cung cấp và bên triển khai sẽ chịu trách nhiệm pháp lý khách quan về thiệt hại, trừ khi chứng minh đã áp dụng đầy đủ các biện pháp quản lý rủi ro theo quy định tại Chương II của Luật này.
  • Khi có thiệt hại phát sinh từ hoạt động trí tuệ nhân tạo, việc xác định trách nhiệm bồi thường sẽ dựa trên Bộ luật Dân sự 2015 và các yếu tố như mức độ rủi ro của hệ thống, vai trò và mức độ kiểm soát của các chủ thể, khả năng dự báo rủi ro, và các biện pháp phòng ngừa đã áp dụng.
  • Mức độ lỗi sẽ được xác định riêng biệt cho lỗi kỹ thuật, lỗi dữ liệu và lỗi quản lý. Đối với hệ thống rủi ro cao, mức bồi thường tối đa có thể cao hơn mức thông thường để đảm bảo hiệu quả răn đe và công bằng.
  • Nhà cung cấp và bên triển khai hệ thống trí tuệ nhân tạo có rủi ro cao phải có cơ chế bảo hiểm trách nhiệm dân sự hoặc các biện pháp bảo đảm tài chính tương đương để đảm bảo khả năng bồi thường thiệt hại.
  • Chính phủ sẽ quy định chi tiết về hành vi vi phạm, hình thức xử phạt, cơ chế phân bổ trách nhiệm và mức bảo hiểm tối thiểu đối với hệ thống có rủi ro cao.

Quy trình thực hiện

  1. Trong 06 tháng kể từ ngày Luật có hiệu lực: Thành lập và kiện toàn Ủy ban Quốc gia về Trí tuệ nhân tạo; ban hành văn bản hướng dẫn; đưa Quỹ Phát triển Trí tuệ nhân tạo Quốc gia vào hoạt động.
  2. Sau 12 tháng: Các quy định về hành vi bị cấm (Mục 1 Chương I) có hiệu lực; triển khai cơ chế hộp cát pháp lý.
  3. Sau 18 tháng: Nghĩa vụ đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo rủi ro cao (Mục 2 Chương II) có hiệu lực thi hành toàn diện.

Lưu ý quan trọng

Hợp đồng & dân sự Minh họa: Hợp đồng & dân sự — Ảnh: USAID Vietnam · Public domain

Lưu ý quan trọng: Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Để được tư vấn cụ thể cho từng trường hợp, vui lòng liên hệ với Luật An Dân Việt hoặc cơ quan có thẩm quyền.

💬 0 trả lời 👁 0 lượt xem

Trả lời (0)

Chưa có trả lời nào.

Hãy là người đầu tiên trả lời chủ đề này!

Vẫn cần hỗ trợ? Nhắn tin cho shop