Bối cảnh xây dựng dự thảo
Bộ Nội vụ hiện đang tổ chức lấy ý kiến rộng rãi đối với dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động (Luật số 84/2015/QH13). Đây là bước rà soát nhằm cập nhật khung pháp lý về an toàn, vệ sinh lao động cho phù hợp với thực tiễn sản xuất, kinh doanh hiện nay, đồng thời củng cố cơ chế bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động và nâng cao năng lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực này. Việc sửa đổi tập trung vào nhóm quy định về khai báo, thống kê, điều tra tai nạn lao động và sự cố kỹ thuật; vai trò của tổ chức công đoàn; hoạt động huấn luyện an toàn lao động; quản lý máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn; cùng trách nhiệm khai báo khi xảy ra tai nạn.
Minh họa: Lao động & việc làm — Ảnh: The government of the Democratic Republic · Public domain
Các nội dung sửa đổi, bổ sung chính
Dự thảo đề xuất điều chỉnh nhiều điều khoản cốt lõi của Luật An toàn, vệ sinh lao động hiện hành.
Trước hết, điểm e khoản 2 Điều 7 được sửa đổi, bổ sung theo hướng quy định cụ thể hơn nghĩa vụ khai báo, điều tra, thống kê và báo cáo đối với các trường hợp tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cũng như sự cố kỹ thuật gây hậu quả nghiêm trọng.
Về vai trò của tổ chức công đoàn, khoản 10 Điều 8 được sửa đổi nhằm làm rõ quyền hạn và trách nhiệm của công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở tại những đơn vị, doanh nghiệp chưa thành lập được công đoàn cơ sở, qua đó không để trống khoảng cách bảo vệ người lao động ở khu vực chưa có tổ chức đại diện tại chỗ.
Nhóm quy định về huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động tại Điều 14 cũng được sửa đổi ở nhiều khoản. Theo đó, khoản 4 Điều 14 yêu cầu người sử dụng lao động phải bố trí huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động trước khi giao việc, đồng thời phải tổ chức huấn luyện lại theo định kỳ trong suốt quá trình làm việc. Khoản 7 Điều 14 quy định đơn vị được phép tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động phải là đơn vị sự nghiệp công lập hoặc doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh dịch vụ huấn luyện, nhằm bảo đảm chất lượng và tính chuyên nghiệp của hoạt động này. Khoản 8 Điều 14 giao Chính phủ quy định chi tiết về đối tượng phải huấn luyện, nội dung chương trình, thời lượng huấn luyện và tiêu chuẩn đối với người trực tiếp giảng dạy.
Đối với máy, thiết bị, vật tư có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động, khoản 2 Điều 28 được sửa đổi theo hướng giao Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành danh mục các loại máy, thiết bị, vật tư thuộc diện này. Song song đó, khoản 2 Điều 30 bổ sung yêu cầu tổ chức, cá nhân phải khai báo với cơ quan chuyên môn có thẩm quyền trước khi đưa vào vận hành, sử dụng các loại máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn. Điểm d khoản 2 Điều 32 cũng được sửa đổi, bổ sung nghĩa vụ báo cáo định kỳ hằng năm về tình hình hoạt động kiểm định kỹ thuật an toàn lao động.
Quy trình khai báo, xử lý khi xảy ra tai nạn lao động
Một trong những nội dung được sửa đổi đáng chú ý nhất là khoản 1 Điều 34, quy định về trách nhiệm khai báo tai nạn lao động.
Theo điểm b khoản 1 Điều 34 sửa đổi, khi xảy ra tai nạn lao động làm chết người hoặc làm từ hai người trở lên bị thương nặng, người sử dụng lao động có trách nhiệm khai báo ngay với cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh nơi xảy ra vụ việc.
Điểm c khoản 1 Điều 34 bổ sung quy định riêng cho các lĩnh vực đặc thù như phóng xạ, khai thác dầu khí và hoạt động của các phương tiện vận tải, theo đó việc khai báo tai nạn, sự cố trong những lĩnh vực này được thực hiện theo pháp luật chuyên ngành tương ứng, bên cạnh quy định chung của Luật An toàn, vệ sinh lao động.
Đối với trường hợp người bị nạn không giao kết hợp đồng lao động, điểm d khoản 1 Điều 34 quy định trách nhiệm khai báo thuộc về thân nhân của nạn nhân hoặc người phát hiện sự việc, áp dụng khi tai nạn lao động dẫn đến chết người hoặc gây thương tích nặng.
Về trình tự thực hiện trên thực tế, người sử dụng lao động cần tổ chức huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động ngay từ trước khi phân công công việc, theo đúng yêu cầu tại khoản 4 Điều 14 nêu trên. Khi có tai nạn lao động xảy ra, người sử dụng lao động — hoặc gia đình nạn nhân, người phát hiện trong trường hợp không có hợp đồng lao động — phải khai báo ngay với cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra sự việc. Cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm tiếp nhận, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động trên địa bàn. Đồng thời, các tổ chức kiểm định kỹ thuật an toàn lao động phải thực hiện báo cáo định kỳ hằng năm theo quy định sửa đổi tại điểm d khoản 2 Điều 32.
Những điểm cần lưu ý đối với doanh nghiệp và người lao động
Việc không tuân thủ đầy đủ các quy định về an toàn, vệ sinh lao động — từ khâu tổ chức huấn luyện, quản lý máy móc thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt, cho đến nghĩa vụ khai báo khi có sự cố — tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tai nạn lao động và có thể kéo theo trách nhiệm pháp lý đối với người sử dụng lao động cũng như các bên liên quan. Theo tinh thần của quy định sửa đổi tại khoản 1 Điều 34, việc khai báo tai nạn lao động cần được thực hiện ngay khi sự việc xảy ra, không được trì hoãn.
Để chủ động tuân thủ, doanh nghiệp và người sử dụng lao động nên chuẩn bị đầy đủ hồ sơ liên quan đến hoạt động huấn luyện an toàn, vệ sinh lao động; hồ sơ, biên bản khi phát sinh tai nạn lao động; cùng các giấy tờ, tài liệu kỹ thuật liên quan đến máy, thiết bị, vật tư thuộc danh mục có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn theo quy định tại Điều 28. Đối với đơn vị chưa thành lập công đoàn cơ sở, cần lưu ý vai trò giám sát, bảo vệ quyền lợi người lao động của công đoàn cấp trên trực tiếp theo quy định sửa đổi tại khoản 10 Điều 8, để phối hợp kịp thời khi cần thiết.
Do dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật An toàn, vệ sinh lao động (Luật số 84/2015/QH13) hiện vẫn đang trong giai đoạn lấy ý kiến, nội dung cụ thể có thể còn được điều chỉnh trước khi trình cơ quan có thẩm quyền xem xét, thông qua. Doanh nghiệp, người lao động và các tổ chức liên quan nên tiếp tục theo dõi tiến trình xây dựng, ban hành văn bản để cập nhật kịp thời khi Luật sửa đổi chính thức có hiệu lực.
Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Để được tư vấn cụ thể cho từng trường hợp, vui lòng liên hệ với Luật An Dân Việt hoặc cơ quan có thẩm quyền.