Hợp đồng & dân sự

Giải đáp về trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Giải đáp về trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Cơ sở pháp lý

Câu hỏi của anh Đức Minh: người lao động có 30 năm thời gian lao động , trong đó 20 năm làm công việc nặng nhọc, nay đã chuyển sang vị trí không trực tiếp làm công việc nặng nhọc. Khi đủ 55 tuổi, người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (HĐLĐ) hay không, trong khi người lao động vẫn muốn tiếp tục làm việc?

Căn cứ Bộ luật Lao động năm 2012:

  • Khoản 4 Điều 36 – trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động: “Người lao động đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu theo quy định tại Điều 187 của Bộ luật này.”
  • Khoản 1 Điều 38 – đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động chỉ được thực hiện trong các trường hợp luật định; việc chấm dứt hợp đồng với lý do nghỉ hưu sớm hơn quy định không thuộc trường hợp này.
  • Khoản 1 Điều 187 – tuổi nghỉ hưu: “Người lao động bị suy giảm khả năng lao động; làm công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thuộc danh mục do Chính phủ quy định có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn so với quy định tại khoản 1 Điều này.”

Theo Luật Bảo hiểm xã hội 2006, Điểm b Khoản 1 Điều 50 quy định điều kiện hưởng lương hưu: “nam từ đủ năm mươi lăm tuổi đến đủ sáu mươi tuổi, nữ từ đủ năm mươi tuổi đến đủ năm mươi lăm tuổi và có đủ mười lăm năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành hoặc có đủ mười lăm năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên…”

Toàn bộ căn cứ pháp lý được tra cứu tại vanban.chinhphu.vn – Cổng thông tin điện tử Chính phủ.

Nội dung chi tiết

1. Điều kiện hưởng lương hưu của người lao động. Người lao động có 30 năm thời gian lao động (trong đó 20 năm làm công việc nặng nhọc) đã đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và đủ điều kiện về tuổi hưởng lương hưu theo Điểm b Khoản 1 Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội 2006 (nam từ đủ 55 tuổi, có đủ 15 năm làm nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm).

Hợp đồng & dân sự Minh họa: Hợp đồng & dân sự — Ảnh: 教育部 · Attribution

2. Quyền lựa chọn nghỉ hưu thuộc về người lao động. Theo Khoản 1 Điều 187 Bộ luật Lao động 2012, người lao động thuộc các trường hợp nêu trên có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn quy định. Nghỉ hưu sớm hơn tuổi 60 (đối với nam) là quyết định của chính người lao động, không phải nghĩa vụ bắt buộc.

3. Người sử dụng lao động không có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ với lý do này. Việc người lao động đạt điều kiện hưởng lương hưu nhưng chưa nghỉ hưu không rơi vào trường hợp người sử dụng lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng theo Khoản 1 Điều 36, cũng không thuộc một trong các trường hợp tại khoản 1 Điều 38 Bộ luật Lao động 2012.

4. Kết luận. Người sử dụng lao động không có quyền yêu cầu người lao động chấm dứt hợp đồng lao động chỉ vì người lao động đã đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu. Nếu người lao động muốn tiếp tục làm việc thì hai bên thực hiện theo hợp đồng lao động đã ký kết.

5. Câu hỏi đặt ra liên quan đến 20 năm làm công việc nặng nhọc. Khi đã chuyển sang vị trí không trực tiếp làm công việc nặng nhọc, thời gian tính.consume vẫn được tính trên cơ sở các năm đã tham gia công việc nặng nhọc theo danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành; việc chuyển vị trí công việc không làm mất quyền lợi đã tích lũy.

Hợp đồng & dân sự Minh họa: Hợp đồng & dân sự — Ảnh: 教育部 · Attribution

Quy trình thực hiện

  1. Xác định thời gian đóng bảo hiểm xã hội tổng thể của người lao động (trong trường hợp này là 30 năm), đối chiếu với điều kiện thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo quy định.
  2. Rà soát số năm làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm thuộc danh mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và Bộ Y tế ban hành (20 năm) hoặc số năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên.
  3. Đối chiếu tuổi của người lao động với Điểm b Khoản 1 Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội 2006 (nam từ đủ 55 tuổi đến đủ 60 tuổi) để xác định điều kiện hưởng lương hưu.
  4. Xác định việc chuyển vị trí công việc hiện tại không thuộc các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại Điều 36 và khoản 1 Điều 38 Bộ luật Lao động 2012.
  5. Trường hợp người sử dụng lao động đã đưa ra yêu cầu chấm dứt hợp đồng, người lao động lập văn bản khiếu nại nêu rõ căn cứ Khoản 1 Điều 187 Bộ luật Lao động 2012 và Points b Khoản 1 Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội 2006.
  6. Nộp khiếu nại đến người sử dụng lao động; nếu không được giải quyết thỏa đáng thì gửi đến Ủy ban nhân dân cấp huyện và Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội nơi có người sử dụng lao động.
  7. Khi đủ điều kiện hưởng lương hưu và có nguyện vọng nghỉ hưu, người lao động lập hồ sơ hưởng lương hưu theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội và nộp cho tổ chức bảo hiểm xã hội nơi cư trú.
  8. Lưu giữ hợp đồng lao động, sổ bảo hiểm xã hội, hồ sơ công việc nặng nhọc và các văn bản liên quan để bảo vệ quyền lợi.

Lưu ý quan trọng

Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo, không thay thế ý kiến tư vấn pháp lý cho vụ việc cụ thể. Để được tư vấn cụ thể, vui lòng liên hệ với Luật An Dân Việt hoặc cơ quan có thẩm quyền.

Các điểm cần lưu ý:

  • Người sử dụng lao động không có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động chỉ vì người lao động đã đủ điều kiện về thời gian đóng bảo hiểm xã hội và tuổi hưởng lương hưu; việc nghỉ hưu sớm là quyền của người lao động.
  • Điều kiện hưởng lương hưu là kết hợp giữa tuổi và thời gian làm nghề nặng nhọc: nam từ đủ 55 tuổi và có đủ 15 năm làm nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm (hoặc đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên).
  • Chuyển sang vị trí không trực tiếp làm công việc nặng nhọc không làm mất số năm công việc nặng nhọc đã tích lũy trước đó.
  • Các căn cứ pháp lý được tra cứu tại vanban.chinhphu.vn; nguồn tham khảo khác như vanban.chinhphu.vn đã được thay thế để đảm bảo tính chính xác và cập nhật.
  • Trường hợp xảy ra tranh chấp lao động, người lao động có quyền yêu cầu hòa giải viên lao động hoặc khởi kiện ra Tòa án nhân dân theo quy định của Bộ luật Lao động 2012.
💬 0 trả lời 👁 0 lượt xem

Trả lời (0)

Chưa có trả lời nào.

Hãy là người đầu tiên trả lời chủ đề này!

Vẫn cần hỗ trợ? Nhắn tin cho shop