Cơ sở pháp lý
-
Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007, được sửa đổi, bổ sung năm 2012 và năm 2014, quy định nguyên tắc khấu trừ thuế tại nguồn đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú.
-
Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật Thuế thu nhập cá nhân; trong đó, điểm i khoản 1 Điều 25 quy định khấu trừ 10% đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công trả theo từng lần từ 2 triệu đồng trở lên.
-
Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 111/2013/TT-BTC liên quan đến khấu trừ thuế, giảm trừ gia cảnh và kê khai thuế.
-
Bộ luật Lao động năm 2019 quy định về chế độ thử việc, trong đó có mức lương thử việc tối thiểu bằng 85% mức lương của công việc đó theo Điều 26.
-
Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế về khai thuế, quyết toán thuế và xử lý hoàn thuế đối với cá nhân.
Nội dung chi tiết
Thu nhập của người lao động trong thời gian thử việc là thu nhập từ tiền lương, tiền công chịu thuế thu nhập cá nhân. Doanh nghiệp với vai trò tổ chức chi trả thu nhập có nghĩa vụ khấu trừ thuế trước khi trả thu nhập cho người lao động, kể cả trong giai đoạn thử việc mà chưa ký hợp đồng lao động chính thức.
Minh họa: Lao động & việc làm — Ảnh: Geoff Charles · CC BY-SA 4.0
Theo điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư số 111/2013/TT-BTC, trường hợp tổng mức trả thu nhập từ tiền lương, tiền công trong một lần chi trả từ 2 triệu đồng trở lên thì tổ chức chi trả phải khấu trừ 10% thuế thu nhập cá nhân trước khi trả cho người lao động. Việc khấu trừ được thực hiện dựa trên mức thu nhập thực trả từng lần, không phụ thuộc vào việc người lao động có đăng ký giảm trừ gia cảnh hay không.
Trường hợp tổng mức trả thu nhập từng lần dưới 2 triệu đồng và cá nhân chỉ có duy nhất thu nhập chịu thuế có tổng mức trả từng lần dưới 2 triệu đồng, tổng thu nhập chịu thuế theo năm dưới mức phải quyết toán thì không phải khấu trừ thuế tại nguồn. Người lao động trong trường hợp này tự khai, tự quyết toán theo quy định nếu có nghĩa vụ thuế.
Tổ chức chi trả có trách nhiệm khấu trừ, kê khai và nộp thuế thu nhập cá nhân thay cho người lao động theo kỳ kê khai. Khoản 10% đã khấu trừ chỉ là tạm khấu trừ trong kỳ; cuối năm, người lao động thực hiện quyết toán thuế để xác định chính xác số thuế phải nộp, trường hợp nộp thừa thì được hoàn thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế.
Thủ tục quyết toán thuế được thực hiện theo Nghị định số 126/2020/NĐ-CP: người lao động có thể ủy quyền cho tổ chức chi trả quyết toán thay, hoặc tự quyết toán trực tiếp với cơ quan thuế nếu đủ điều kiện, hồ sơ gồm tờ khai quyết toán thuế và các chứng từ liên quan đến thu nhập, khấu trừ.
Quy trình thực hiện
- Xác định tổng mức thu nhập trả cho người lao động thử việc trong từng lần chi trả.
- Nếu tổng mức trả thu nhập từ 2 triệu đồng/lần trở lên: khấu trừ 10% thuế thu nhập cá nhân trước khi chi trả cho người lao động.
- Cấp chứng từ khấu trừ thuế cho người lao động khi có yêu cầu, ghi rõ số thuế đã khấu trừ trong kỳ.
- Kê khai, nộp số thuế đã khấu trừ theo kỳ quy định, lưu giữ hồ sơ đầy đủ để đối chiếu khi cơ quan thuế yêu cầu.
- Cuối năm, người lao động thực hiện quyết toán thuế bằng cách ủy quyền cho tổ chức chi trả hoặc tự quyết toán trực tiếp với cơ quan thuế.
- Nhận hoàn thuế từ cơ quan thuế nếu số thuế đã tạm khấu trừ lớn hơn số thuế phải nộp sau quyết toán.
Lưu ý quan trọng
Việc khấu trừ 10% chỉ áp dụng khi tổng mức trả thu nhập từ tiền lương, tiền công trong một lần từ 2 triệu đồng trở lên; thu nhập dưới mức này thuộc trường hợp không phải khấu trừ theo điểm i khoản 1 Điều 25 Thông tư số 111/2013/TT-BTC.
Người lao động có quyền yêu cầu tổ chức chi trả cấp chứng từ khấu trừ thuế; chứng từ này là căn cứ quan trọng để quyết toán, đối chiếu và hoàn thuế thu nhập cá nhân cuối năm.
Theo Điều 26 Bộ luật Lao động năm 2019, tiền lương thử việc của người lao động phải ít nhất bằng 85% mức lương của công việc đó; đây là khoản thu nhập làm căn cứ xác định nghĩa vụ khấu trừ thuế của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp không khấu trừ hoặc khấu trừ không đúng, không đủ số thuế phải khấu trừ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính về thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế và Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế.
Số thuế 10% đã khấu trừ là tạm khấu trừ; người lao động nên chủ động quyết toán thuế cuối năm để xác định số thuế phải nộp chính thức, tránh nộp thừa hoặc bị truy thu.
Quy định về thuế thường xuyên được sửa đổi, bổ sung; doanh nghiệp và người lao động nên theo dõi văn bản mới nhất, đồng thời liên hệ cơ quan thuế quản lý trực tiếp để được hướng dẫn khi có vướng mắc phát sinh.
Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Để được tư vấn cụ thể cho từng trường hợp, vui lòng liên hệ với Luật An Dân Việt hoặc cơ quan có thẩm quyền.