Căn cứ pháp lý
Ngày 27/8/2025, Cục Thuế thành phố Hà Nội đã ban hành Công văn số 44421/HAN-CNTK để giải đáp vướng mắc liên quan đến chính sách thuế thu nhập cá nhân (TNCN), tập trung vào nghĩa vụ khấu trừ thuế đối với khoản thu nhập từ tiền lương, tiền công. Nội dung hướng dẫn được xây dựng trên cơ sở quy định tại khoản 3 Điều 8 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 và khoản 2 Điều 50 Nghị định số 253/2026/NĐ-CP, hai văn bản trực tiếp điều chỉnh trách nhiệm khấu trừ thuế của tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập cho người lao động.
Minh họa: Lao động & việc làm — Ảnh: Plinskarch · CC BY-SA 4.0
Thời điểm xác định thu nhập chịu thuế
Theo hướng dẫn tại công văn nêu trên, thời điểm để tính thu nhập chịu thuế TNCN được xác định theo nguyên tắc mốc nào phát sinh trước thì tính trước: đó là thời điểm tổ chức hoặc cá nhân chi trả thực hiện việc trả thu nhập cho người nộp thuế, hoặc thời điểm người nộp thuế thực nhận khoản thu nhập đó. Việc xác định đúng thời điểm này có ý nghĩa quan trọng để đơn vị chi trả thực hiện khấu trừ đúng kỳ kê khai, tránh sai lệch số liệu khi tổng hợp và quyết toán thuế cuối năm.
Tỷ lệ và ngưỡng khấu trừ theo mức chi trả
Công văn 44421/HAN-CNTK làm rõ hai tình huống áp dụng đối với tổ chức, cá nhân trả tiền lương, tiền công cho cá nhân cư trú thuộc diện không giao kết hợp đồng lao động hoặc giao kết hợp đồng lao động có thời hạn dưới 03 tháng:
- Trường hợp một lần chi trả có giá trị từ 05 triệu đồng trở lên: đơn vị chi trả bắt buộc phải khấu trừ thuế TNCN theo tỷ lệ 10% trên tổng thu nhập trước khi thanh toán cho cá nhân, không phụ thuộc vào việc cá nhân đó có đề nghị hay không.
- Trường hợp một lần chi trả dưới 05 triệu đồng: việc khấu trừ 10% không mặc nhiên bắt buộc, mà chỉ được thực hiện khi cá nhân nhận thu nhập chủ động đề nghị đơn vị chi trả áp dụng khấu trừ.
Cách phân định theo ngưỡng 05 triệu đồng mỗi lần chi trả này giúp đơn vị chi trả xác định nhanh nghĩa vụ khấu trừ mà không cần chờ đến kỳ quyết toán năm mới rà soát lại.
Cơ chế cam kết tạm chưa khấu trừ thuế
Đối với cá nhân tự ước tính rằng tổng thu nhập chịu thuế trong năm của mình chưa đến mức phải nộp thuế TNCN, công văn cho phép cá nhân đó lập văn bản cam kết gửi tổ chức, cá nhân chi trả thu nhập để làm căn cứ tạm thời không thực hiện khấu trừ 10% tại nguồn. Cơ chế này nhằm tránh tình trạng khấu trừ trước rồi hoàn thuế sau, qua đó giảm bớt thủ tục cho cả người lao động lẫn đơn vị chi trả trong trường hợp thu nhập thực tế còn thấp hơn ngưỡng chịu thuế.
Tuy nhiên, để cam kết nêu trên có giá trị sử dụng, tổ chức chi trả thu nhập vẫn phải theo dõi và lập riêng danh sách những cá nhân đã gửi cam kết cùng với số thu nhập tương ứng, làm cơ sở báo cáo với cơ quan thuế quản lý trực tiếp khi có yêu cầu.
Trình tự xử lý tại đơn vị chi trả thu nhập
Căn cứ hướng dẫn tại Công văn 44421/HAN-CNTK, đơn vị chi trả tiền lương, tiền công có thể thực hiện nghĩa vụ khấu trừ thuế TNCN theo trình tự sau:
- Xác định cá nhân nhận thu nhập có thuộc diện cư trú hay không, có ký hợp đồng lao động hay không và thời hạn hợp đồng (nếu có).
- So sánh giá trị từng lần chi trả với ngưỡng 05 triệu đồng để xác định nghĩa vụ khấu trừ là bắt buộc hay chỉ thực hiện theo đề nghị.
- Với khoản chi trả từ 05 triệu đồng mỗi lần trở lên, khấu trừ ngay 10% trên thu nhập trước khi thanh toán cho cá nhân.
- Với khoản chi trả dưới 05 triệu đồng mỗi lần, chỉ khấu trừ khi nhận được đề nghị của cá nhân; đồng thời tiếp nhận, lưu giữ văn bản cam kết tạm chưa khấu trừ nếu cá nhân đủ điều kiện và có yêu cầu.
- Cuối kỳ tính thuế, tổng hợp danh sách cùng số thu nhập của các cá nhân đã cam kết chưa đến mức khấu trừ, gửi cơ quan thuế theo quy định để phục vụ công tác quản lý, đối chiếu.
Việc tuân thủ đầy đủ trình tự nêu trên giúp tổ chức chi trả thu nhập vừa bảo đảm đúng nghĩa vụ khấu trừ thuế tại nguồn theo khoản 3 Điều 8 Luật Thuế thu nhập cá nhân 2025 và khoản 2 Điều 50 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, vừa hạn chế rủi ro bị truy thu, xử phạt khi cơ quan thuế thanh tra, kiểm tra sau này.
Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Để được tư vấn cụ thể cho từng trường hợp, vui lòng liên hệ với Luật An Dân Việt hoặc cơ quan có thẩm quyền.