Cơ sở pháp lý
-
Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 (Điều 21 quy định trách nhiệm đóng bảo hiểm xã hội của người sử dụng lao động; Điều 122 quy định về xử lý vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội).
-
Luật Việc làm năm 2013 (quy định chế độ bảo hiểm thất nghiệp và trách nhiệm đóng bảo hiểm thất nghiệp của người sử dụng lao động).
-
Luật Bảo hiểm y tế năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 (quy định trách nhiệm đóng bảo hiểm y tế cho người lao động).
-
Nghị định số 88/2015/NĐ-CP ngày 07/10/2015 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.
-
Bộ luật Lao động năm 2019 (quy định nghĩa vụ của người sử dụng lao động trong việc tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động).
-
Luật Tố tụng dân sự năm 2015 (quy định về quyền khởi kiện vụ án dân sự và thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại tòa án).
Nội dung chi tiết
Theo quy định của pháp luật, người sử dụng lao động có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động hằng tháng. Mức đóng gồm phần trích từ tiền lương của người lao động và phần đóng góp của doanh nghiệp theo tỷ lệ quy định; doanh nghiệp có trách nhiệm trích nộp cả hai phần này cho cơ quan bảo hiểm xã hội đúng thời hạn. Việc chậm đóng, trốn đóng không chỉ vi phạm pháp luật mà còn trực tiếp xâm phạm quyền lợi hợp pháp của người lao động.
Minh họa: Lao động & việc làm — Ảnh: Uncredited photographer, from government · Public domain
Khi doanh nghiệp nợ đóng bảo hiểm, người lao động bị ảnh hưởng nghiêm trọng: không được hưởng chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất; không được giải quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp khi mất việc; thời gian không đóng bảo hiểm không được tính vào quá trình tham gia, làm gián đoạn quyền hưởng lương hưu và các chế độ khác về sau. Nhiều trường hợp người lao động nghỉ việc hoặc đủ điều kiện hưởng chế độ nhưng không thể làm thủ tục do doanh nghiệp còn nợ tiền đóng.
Trước tình trạng doanh nghiệp nợ đóng kéo dài, cơ quan bảo hiểm xã hội áp dụng các biện pháp xử lý theo trình tự: đôn đốc, nhắc nhở, yêu cầu doanh nghiệp cam kết thời hạn nộp; lập biên bản vi phạm hành chính và ra quyết định xử phạt theo Nghị định số 88/2015/NĐ-CP; tính tiền lãi chậm đóng đối với số tiền nợ. Nếu doanh nghiệp vẫn không thực hiện nghĩa vụ, cơ quan bảo hiểm xã hội có quyền khởi kiện ra tòa án yêu cầu doanh nghiệp phải đóng số tiền còn nợ và lãi chậm đóng theo quy định.
Quyền khởi kiện của cơ quan bảo hiểm xã hội được ghi nhận tại Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014. Theo đó, tổ chức bảo hiểm xã hội có quyền khởi kiện vụ án dân sự đối với người sử dụng lao động vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội, yêu cầu tòa án buộc doanh nghiệp phải đóng đủ số tiền bảo hiểm còn nợ, tiền lãi chậm đóng và các khoản liên quan nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động và quỹ bảo hiểm xã hội.
Khi nhận được đơn khởi kiện hợp lệ của cơ quan bảo hiểm xã hội, tòa án có thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục tố tụng dân sự. Bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực sẽ được cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành, buộc doanh nghiệp nợ đóng phải nộp đủ tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và lãi chậm đóng vào quỹ, từ đó quyền lợi của người lao động được khôi phục và đảm bảo.
Quy trình thực hiện
- Cơ quan bảo hiểm xã hội rà soát, xác định danh sách doanh nghiệp nợ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp từ dữ liệu quản lý thu trên địa bàn.
- Cơ quan bảo hiểm xã hội gửi thông báo đôn đốc, nhắc nhở, yêu cầu doanh nghiệp giải trình và cam kết thời hạn nộp; đồng thời áp dụng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính nếu doanh nghiệp không chấp hành.
- Xác định chính xác số tiền nợ đóng của từng doanh nghiệp, bao gồm tiền bảo hiểm gốc còn nợ và tiền lãi chậm đóng tính theo quy định.
- Cơ quan bảo hiểm xã hội làm thủ tục khởi kiện vụ án dân sự và nộp đơn khởi kiện đến tòa án có thẩm quyền theo quy định của Luật Tố tụng dân sự.
- Tòa án thụ lý vụ án, tổ chức hòa giải, xét xử và ra bản án, quyết định buộc doanh nghiệp phải đóng số tiền bảo hiểm còn nợ và lãi chậm đóng.
- Cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thi hành bản án, quyết định của tòa án, thu hồi số tiền nợ đóng và nộp vào quỹ bảo hiểm xã hội để bảo đảm quyền lợi cho người lao động.
Lưu ý quan trọng
Người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp nợ đóng bảo hiểm xã hội nên chủ động liên hệ với cơ quan bảo hiểm xã hội nơi doanh nghiệp đóng trụ sở hoặc nơi cư trú để được hướng dẫn, hỗ trợ và theo dõi quá trình xử lý của cơ quan chức năng.
Doanh nghiệp nợ đóng bảo hiểm không chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn phải chịu tiền lãi chậm đóng tính trên số tiền nợ; nếu bị khởi kiện ra tòa, doanh nghiệp còn phải chịu án phí và các chi phí tố tụng theo quy định.
Người lao động nên thường xuyên kiểm tra quá trình tham gia bảo hiểm xã hội của mình qua sổ bảo hiểm xã hội hoặc ứng dụng VssID để kịp thời phát hiện thời gian bị chậm đóng, nợ đóng của doanh nghiệp.
Trường hợp doanh nghiệp trốn đóng, chậm đóng bảo hiểm, người lao động có quyền khiếu nại, tố cáo đến cơ quan bảo hiểm xã hội, thanh tra lao động hoặc cơ quan có thẩm quyền để được xem xét, xử lý theo pháp luật.
Khi cơ quan bảo hiểm xã hội khởi kiện doanh nghiệp ra tòa, người lao động được bảo vệ quyền lợi thông qua việc tòa án buộc doanh nghiệp đóng bù đủ số tiền nợ; người lao động có thể tham gia với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nếu được tòa án đưa vào tham gia tố tụng.
Mọi thắc mắc về quyền lợi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, người lao động nên liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội nơi cư trú hoặc tổng đài hỗ trợ để được tư vấn cụ thể, tránh tự ý thỏa thuận trái pháp luật với doanh nghiệp.
Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Để được tư vấn cụ thể cho từng trường hợp, vui lòng liên hệ với Luật An Dân Việt hoặc cơ quan có thẩm quyền.