Cơ sở pháp lý
-
Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định chế độ một vợ, một chồng tại Điều 8, Điều 9 và Điều 10, trong đó Điều 8 xác định hôn nhân phải tuân thủ nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng; Điều 10 quy định một người chỉ được kết hôn với một người tại một thời điểm. Các Điều 59, 60 của Luật này cũng quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, sau đó được thay thế bởi Nghị định 109/2026/NĐ-CP.
-
Nghị định 109/2026/NĐ-CP ngày 01/4/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phục hồi và phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 18/5/2026 và thay thế Nghị định số 82/2020/NĐ-CP ngày 15/7/2020 (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 117/2024/NĐ-CP ngày 18/9/2024). Điều 62 Nghị định 109/2026/NĐ-CP quy định chi tiết về hành vi vi phạm quy định về kết hôn, ly hôn và vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng.
-
Bộ luật Hình sự 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 182 quy định tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng, áp dụng đối với các hành vi nghiêm trọng hơn mức xử phạt hành chính, có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm tùy theo mức độ hậu quả.
-
Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định chung về xử phạt vi phạm hành chính, biện pháp khắc phục hậu quả và thẩm quyền của cơ quan có thẩm quyền trong xử lý vi phạm hành chính lĩnh vực hôn nhân và gia đình.
-
Nghị định 117/2024/NĐ-CP ngày 18/9/2024 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 82/2020/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, là văn bản có hiệu lực trước khi được Nghị định 109/2026/NĐ-CP thay thế.
Nội dung chi tiết
Chế độ một vợ, một chồng là nguyên tắc cơ bản của pháp luật hôn nhân Việt Nam, được quy định rõ ràng tại Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Theo đó, mỗi cá nhân chỉ được phép kết hôn với đúng một người tại một thời điểm. Không được phép kết hôn với người đang có vợ hoặc đang có chồng hợp pháp. Hành vi vi phạm chế độ này bao gồm: kết hôn với người đã có vợ hoặc chồng; chung sống như vợ chồng với người đang có vợ hoặc chồng mà không đăng ký kết hôn; và duy trì quan hệ hôn nhân trái pháp luật.
Minh họa: Hôn nhân & gia đình — Ảnh: Khương Việt Hà · Public domain
Kể từ ngày 18/5/2026, theo Điều 62 Nghị định 109/2026/NĐ-CP, mức phạt tiền đối với các hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng được nâng lên đáng kể so với quy định trước đó. Cụ thể, phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với các hành vi như: đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác; đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác; chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống với người biết rõ đang có chồng hoặc đang có vợ; kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa người đã từng là cha mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng; và cản trở kết hôn, yêu sách của cải trong kết hôn hoặc cản trở ly hôn.
Mức phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng được áp dụng đối với các hành vi nghiêm trọng hơn, bao gồm: kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ hoặc giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa cha mẹ nuôi với con nuôi; cưỡng ép kết hôn hoặc lừa dối kết hôn; cưỡng ép ly hôn hoặc lừa dối ly hôn; lợi dụng việc kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam hoặc quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt mục đích khác không nhằm xây dựng gia đình; lợi dụng việc ly hôn để trốn tránh nghĩa vụ tài sản, vi phạm chính sách pháp luật về dân số hoặc đạt mục đích khác không nhằm chấm dứt hôn nhân. Người vi phạm trong các trường hợp lợi dụng kết hôn hoặc ly hôn còn có thể bị buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được.
Về trách nhiệm hình sự, Điều 182 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng. Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác, hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ đang có chồng, có vợ, nếu làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm. Nếu làm cho vợ, chồng hoặc con của một bên tự sát, hoặc đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt chung sống như vợ chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
Quy trình thực hiện
- Xác định hành vi vi phạm: Cơ quan có thẩm quyền tiến hành xác định liệu hành vi của cá nhân có cấu thành vi phạm chế độ một vợ, một chồng hay không, dựa trên các căn cứ như giấy khai sinh, chứng minh nhân dân, đăng ký kết hôn, và các chứng cứ về mối quan hệ thực tế giữa các bên.
- Thu thập chứng cứ: Cơ quan chức năng tiến hành điều tra, thu thập chứng cứ bao gồm hồ sơ kết hôn, chứng cứ về chung sống như vợ chồng, lời khai của các bên liên quan, chứng cứ từ hàng xóm, người thân, hình ảnh, video và các tài liệu khác có liên quan để xác minh hành vi vi phạm.
- Xử phạt hành chính hoặc truy tố hình sự: Đối với các hành vi vi phạm chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, cơ quan có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo Điều 62 Nghị định 109/2026/NĐ-CP. Đối với các hành vi nghiêm trọng gây hậu quả như ly hôn, tự tử hoặc tái phạm, cơ quan điều tra có thể khởi tố và truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 182 Bộ luật Hình sự.
- Nộp đơn khởi kiện (nếu có): Các bên liên quan có quyền nộp đơn khởi kiện đến Tòa án nhân dân về tranh chấp hôn nhân và gia đình, yêu cầu chấm dứt quan hệ chung sống như vợ chồng, yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu giải quyết các vấn đề về tài sản, con cái phát sinh từ hành vi vi phạm.
- Tòa án giải quyết: Tòa án nhân dân tiến hành xem xét vụ việc, điều tra nội dung vụ án, nghe ý kiến các bên và ra bản án hoặc quyết định giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bao gồm cả việc xác nhận hành vi vi phạm và áp dụng các biện pháp xử lý theo quy định pháp luật.
- Thi hành quyết định: Sau khi có quyết định xử phạt hành chính hoặc bản án hình sự có hiệu lực pháp luật, cơ quan thi hành án và cơ quan có thẩm quyền chịu trách nhiệm thi hành, bao gồm thu tiền phạt, thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả, giám sát việc chấp hành bản án hình sự và đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.
Lưu ý quan trọng
Mức phạt hành chính đối với hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng đã được Nghị định 109/2026/NĐ-CP tăng đáng kể so với trước đây. Trong khi mức phạt cũ theo Nghị định 82/2020/NĐ-CP chỉ từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, thì nay mức phạt thấp nhất đã được nâng lên 5.000.000 đồng và mức phạt cao nhất đối với nhóm hành vi nghiêm trọng là 20.000.000 đồng. Người dân cần nắm rõ các mức phạt mới để ý thức tuân thủ pháp luật.
Vi phạm chế độ một vợ, một chồng không chỉ bị xử phạt hành chính mà còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu gây ra hậu quả nghiêm trọng như làm tan vỡ hôn nhân dẫn đến ly hôn, gây ra hậu quả khiến vợ, chồng hoặc con của một bên tự sát, hoặc tái phạm sau khi đã bị xử phạt hành chính. Mức hình phạt hình sự theo Điều 182 Bộ luật Hình sự có thể lên đến 03 năm tù giam.
Chế độ một vợ, một chồng được quy định rõ ràng và bảo vệ chặt chẽ trong Bộ luật Hôn nhân và gia đình 2014. Đây là nguyên tắc cơ bản của hôn nhân pháp luật Việt Nam, phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội và được quốc tế thừa nhận. Bất kỳ hành vi nào xâm phạm nguyên tắc này đều bị pháp luật nghiêm cấm và sẽ chịu các hình thức xử lý tương ứng.
Điểm mới quan trọng của Nghị định 109/2026/NĐ-CP là tăng thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, cho phép phạt tiền đến 15.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, đồng thời áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định tại Điều 28 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Điều này giúp xử lý nhanh chóng, hiệu quả hơn các trường hợp vi phạm nhỏ lẻ trên địa bàn.
Khi phát hiện hành vi vi phạm chế độ một vợ, một chồng, người dân có thể liên hệ với cơ quan công an địa phương, UBND phường/xã hoặc cơ quan tư pháp để được tư vấn và hỗ trợ. Đối với các trường hợp phức tạp, cần tìm kiếm sự hỗ trợ từ luật sư chuyên về lĩnh vực hôn nhân và gia đình để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của bản thân.
Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Để được tư vấn cụ thể cho từng trường hợp, vui lòng liên hệ với Luật An Dân Việt hoặc cơ quan có thẩm quyền.