Căn cứ pháp lý áp dụng
Việc xác định thu nhập tính thuế đối với khoản tiền lương, tiền công của cá nhân cư trú được thực hiện theo khoản 1 và khoản 2 Điều 46 Nghị định 253/2026/NĐ-CP. Theo đó, số thuế thu nhập cá nhân (TNCN) phải nộp bằng thu nhập tính thuế nhân với thuế suất tương ứng trong Biểu thuế lũy tiến từng phần quy định tại Điều 9 Luật Thuế thu nhập cá nhân, áp dụng thống nhất mà không phụ thuộc vào việc thu nhập được chi trả hay được nhận ở đâu. Riêng danh mục các khoản được phép khấu trừ trước khi tính ra thu nhập chịu thuế thì được liệt kê cụ thể tại Điều 8 Nghị định 253/2026/NĐ-CP. Đây là hai điều khoản then chốt mà người lao động, kể cả người làm việc cho nhiều nơi hoặc có thu nhập từ nước ngoài, cần nắm để tự kiểm tra số thuế mình phải nộp có đang được tính đúng hay không.
Minh họa: Lao động & việc làm — Ảnh: Press Information Department · Public domain
Cách xác định thu nhập tính thuế từ tiền lương, tiền công
Về bản chất, thu nhập tính thuế không phải là toàn bộ số tiền lương, tiền công mà người lao động thực nhận, cũng không phải là thu nhập chịu thuế gộp trước khi trừ bất kỳ khoản nào. Thu nhập tính thuế được xác định bằng cách lấy tổng thu nhập chịu thuế phát sinh trong kỳ tính thuế, sau đó trừ đi những khoản giảm trừ mà pháp luật cho phép. Nói cách khác, cùng một mức lương gộp, hai người có thể phải nộp số thuế khác nhau nếu mức đóng bảo hiểm, mức đóng góp từ thiện hay hoàn cảnh cư trú của họ khác nhau. Vì vậy, việc rà soát đầy đủ các khoản được trừ trước khi kê khai không chỉ giúp tính đúng nghĩa vụ thuế mà còn tránh thiệt thòi cho người nộp thuế khi cơ quan thuế đối chiếu số liệu.
Các khoản được trừ khi tính thu nhập chịu thuế
Theo Điều 8 Nghị định 253/2026/NĐ-CP, hai nhóm khoản trừ chính bao gồm:
- Các khoản bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện có liên quan. Đó là phần tiền đã đóng vào bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp theo quy định pháp luật, cùng với phần đóng cho bảo hiểm hưu trí bổ sung và bảo hiểm nhân thọ. Tuy nhiên, tổng mức được trừ cho nhóm khoản này không được vượt quá 03 triệu đồng mỗi tháng, dù thực tế người lao động có thể đóng nhiều hơn con số đó.
- Các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo và những khoản giảm trừ khác theo luật định. Nhóm này được xác định căn cứ Điều 11 Luật Thuế thu nhập cá nhân, đồng thời được hướng dẫn chi tiết tại Điều 49 Nghị định 253/2026/NĐ-CP. Đây thường là các khoản ủng hộ cho quỹ từ thiện, quỹ nhân đạo, quỹ khuyến học được cơ quan có thẩm quyền công nhận, cùng một số khoản giảm trừ khác mà pháp luật thuế có quy định riêng.
Người nộp thuế chỉ được trừ những khoản có căn cứ, chứng từ hợp lệ; những khoản đóng góp không đúng đối tượng hoặc không có giấy tờ chứng minh sẽ không được tính vào thu nhập được giảm trừ.
Trường hợp có thu nhập tiền lương, tiền công phát sinh ở nước ngoài
Một điểm cần lưu ý riêng là với cá nhân cư trú tại Việt Nam nhưng có nguồn thu nhập tiền lương, tiền công phát sinh ở nước ngoài, pháp luật vẫn cho phép trừ các khoản bảo hiểm bắt buộc mà người đó đã đóng theo quy định của quốc gia nơi phát sinh thu nhập trước khi xác định thu nhập chịu thuế tại Việt Nam. Quy định này nhằm tránh tình trạng một khoản tiền vừa bị khấu trừ nghĩa vụ bảo hiểm ở nước ngoài, vừa bị tính thuế toàn bộ như thể chưa từng bị trừ, gây bất lợi kép cho người lao động có yếu tố thu nhập xuyên biên giới.
Trình tự xác định số thuế TNCN phải nộp
Về mặt thực hành, người nộp thuế hoặc bộ phận chi trả thu nhập có thể thực hiện theo trình tự sau:
- Xác định tổng thu nhập chịu thuế. Tổng hợp toàn bộ khoản tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công phát sinh trong kỳ tính thuế.
- Tổng hợp các khoản được trừ. Cộng dồn phần đóng bảo hiểm thuộc diện được trừ (không vượt mức 03 triệu đồng/tháng) và các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo, giảm trừ khác có đủ chứng từ hợp lệ.
- Tính thu nhập tính thuế. Lấy tổng thu nhập chịu thuế ở bước 1 trừ đi tổng các khoản được trừ ở bước 2.
- Áp dụng Biểu thuế lũy tiến từng phần. Đối chiếu thu nhập tính thuế với các bậc thuế suất tại Điều 9 Luật Thuế thu nhập cá nhân để tính ra số thuế TNCN phải nộp trong kỳ.
Thực hiện đúng trình tự này giúp hạn chế sai sót khi tự quyết toán thuế cuối năm, đồng thời là cơ sở để đối chiếu khi cơ quan thuế hoặc đơn vị chi trả thu nhập thực hiện khấu trừ hằng tháng.
Một số lưu ý khi áp dụng
Người nộp thuế nên chủ động lưu giữ đầy đủ chứng từ liên quan đến các khoản đóng bảo hiểm và các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo, vì đây là căn cứ bắt buộc khi cơ quan thuế yêu cầu giải trình hoặc khi thực hiện quyết toán thuế. Với mức trần 03 triệu đồng/tháng áp dụng cho nhóm bảo hiểm, phần vượt mức này sẽ không được tính vào thu nhập được giảm trừ, dù người lao động vẫn có quyền đóng cao hơn theo thỏa thuận với đơn vị bảo hiểm. Đối với các khoản giảm trừ từ thiện, nhân đạo, cần đối chiếu đúng đối tượng thụ hưởng và tổ chức tiếp nhận được pháp luật công nhận để tránh trường hợp khoản đóng góp không được cơ quan thuế chấp nhận khi quyết toán.
Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Để được tư vấn cụ thể cho từng trường hợp, vui lòng liên hệ với Luật An Dân Việt hoặc cơ quan có thẩm quyền.