Căn cứ pháp lý điều chỉnh quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận
Việc đăng ký quyền sử dụng đất cũng như cấp các giấy tờ pháp lý liên quan được quản lý bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Luật Đất đai số 31/2024/QH15, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 8 năm 2024, thay thế hệ thống pháp lý trước đó và quy định toàn bộ trình tự, thủ tục cấp giấy xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu công trình xây dựng và các tài sản liên kết với lô đất (áp dụng theo Điều 135, Điều 136 và những điều khoản liên quan). Đối với các hồ sơ nộp trước thời điểm này, Luật Đất đai số 45/2013/QH13 tiếp tục có hiệu lực, quy định chi tiết về thủ tục đăng ký, cấp giấy xác nhận và trách nhiệm của các bộ máy nhà nước trong xử lý công việc liên quan đến đất đai.
Về mặt tài chính, Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 xác định các khoản tiền mà công dân phải nộp khi thực hiện thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực đất đai, gồm có lệ phí trước bạ, lệ phí phục vụ công tác địa chính, và phí kiểm tra, đánh giá giấy tờ đề nghị. Căn cứ cụ thể để tính toán lệ phí trước bạ được quy định trong Nghị định số 10/2022/NĐ-CP của Chính phủ, bao gồm mức thu theo từng trường hợp, phương thức tính toán, cũng như những trường hợp được phép miễn giảm theo luật định.
Bên cạnh đó, hành vi đòi hỏi hoặc nhận tiền bên ngoài các khoản thu chính thức bị coi là hành vi phạm tội theo pháp luật hình sự. Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 (với các sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định rõ trong Điều 354 về tội danh tiếp nhận tiền lợi ích không chính đáng, Điều 364 về tội danh trao tiền lợi ích không chính đáng; cả người yêu cầu, tiếp nhận lẫn người chuyển giao tiền đều phải chịu trách nhiệm theo quy định của luật hình sự. Ngoài ra, Nghị định số 91/2019/NĐ-CP của Chính phủ đề ra các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, bao gồm những hành vi cản trở, gây cản ngại trong xử lý thủ tục đất đai không đúng quy định.
Minh họa: Đất đai & nhà ở — Ảnh: KingMarineWP · CC BY-SA 4.0
Phí tức lệ phí hợp pháp và bản chất của hành vi 'lót tay'
Giấy xác nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu công trình xây dựng cùng các tài sản gắn liền với lô đất (thường gọi tắt là sổ đỏ trong cách nói phổ thông) là tài liệu pháp lý sơ cấp để xác lập và bảo vệ quyền lợi của chủ thể đối với lô đất và công trình trên đó. Để được cấp tài liệu này, công dân phải gửi hồ sơ tại Phòng ghi danh quyền sử dụng đất hoặc bộ phận tiếp nhận một cửa thuộc UBND cấp huyện, cấp xã nơi đất được đặt, theo quy trình được pháp luật chuyên ngành quy định.
Toàn bộ quá trình tiếp nhận hồ sơ, rà soát nội dung, phê chuẩn và cấp giấy xác nhận đều có thời gian giải quyết cụ thể và danh sách giấy tờ cần thiết được pháp luật nêu rõ. Không tồn tại bất kỳ quy định pháp luật nào cho phép cơ quan, cá nhân công quyền thu tiền ngoài bộ máy kế toán chính thức của nhà nước.
Khi thực hiện thủ tục cấp sổ đỏ, công dân chỉ cần nộp những khoản phí tức lệ phí được pháp luật xác định: lệ phí trước bạ (áp dụng khi ghi danh quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng công trình xây dựng hay lô đất theo Nghị định 10/2022/NĐ-CP), lệ phí địa chính, phí kiểm tra giấy tờ, cùng những nghĩa vụ tài chính đối với lô đất (tiền sử dụng đất hàng năm, tiền thuế từ giao dịch chuyển quyền nếu áp dụng) theo quy định hiện hành. Mọi khoản tiền này đều phải được ghi chép, xác nhận qua các biên lai chính thức của cơ quan tài chính nhà nước. Công dân có quyền đòi hỏi cơ quan tài chính công khai, trình bày theo quy định pháp luật khi yêu cầu thanh toán.
Thực tế cho thấy 44% số công dân làm thủ tục cấp sổ đỏ đã bị yêu cầu thanh toán tiền ngoài ngân sách, phản ánh sự tồn tại của những cán bộ, công chức lợi dụng chức sắc để yêu cầu tiền không chính đáng, nhằm tăng tốc độ xử lý hoặc thực hiện những hành động trái phép. Đây là hành vi tiêu cực, không được pháp luật công nhân, gây phát sinh chi phí đáng tiếc, làm phiền toái, bất mãn cho công dân, đồng thời làm sai lệch những số liệu quản lý tài nguyên đất đai của nhà nước.
Hậu quả pháp lý của hành vi đòi hỏi và nhận tiền ngoài lề
Hành vi yêu cầu, tiếp nhận tiền bên ngoài ngân sách (gọi là hối lộ) phải đối mặt với những xử phạt nghiêm khắc theo pháp luật. Cán bộ, công chức có chức vụ, quyền hạn mà tiếp nhận tiền lợi ích không chính đáng sẽ bị truy tố về tội danh tiếp nhận tiền lợi ích không chính đáng theo Điều 354 của Bộ luật Hình sự. Người dân trao tiền không chính đáng cũng chịu trách nhiệm hình sự về tội danh trao tiền lợi ích không chính đáng theo Điều 364 của Bộ luật Hình sự. Tùy theo mức độ, tính chất của hành vi, có thể còn phát sinh những xử phạt kỷ luật đối với công chức, hoặc những biện pháp xử phạt vi phạm hành chính bổ sung.
Biện pháp bảo vệ quyền lợi và báo cáo vi phạm
Công dân nên tuân thủ đúng quy trình đã được pháp luật quy định, chỉ thanh toán những khoản phí theo các thông báo chính thức từ cơ quan công quyền, và yêu cầu biên lai hoặc giấy tờ xác nhận từ cơ quan tài chính. Dưới mọi hoàn cảnh, kể cả khi bị gợi ý hoặc gây sức ép, công dân không nên trao tiền bên ngoài hệ thống kế toán chính thức.
Khi phát hiện hoặc trải qua hành vi yêu cầu tiền ngoài lề, công dân được phép phản ánh, công bố qua nhiều kênh: đường dây tiếp nhận phản ánh của Thanh tra Chính phủ, thanh tra cấp tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường địa phương, cơ quan cảnh sát, hoặc hòm thư tiếp nhận ý kiến của bộ phận tiếp nhận công việc một cửa. Thông tin phản ánh cần được cung cấp một cách trung thực, kèm theo tài liệu, chứng cứ cụ thể để những cơ quan chức năng có thể kiểm chứng, xử lý kịp thời theo quy định.
Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Để được tư vấn cụ thể cho từng trường hợp, vui lòng liên hệ với Luật An Dân Việt hoặc cơ quan có thẩm quyền.