Cơ sở pháp lý
-
Luật Doanh nghiệp năm 2020 (số 59/2020/QH14) – Điều 17 quy định về quyền thành lập, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp và quản lý doanh nghiệp của tổ chức, cá nhân, đồng thời liệt kê các đối tượng không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam.
-
Luật Doanh nghiệp năm 2014 – Điều 18 quy định về quyền thành lập, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp và quản lý doanh nghiệp, là căn cứ pháp lý áp dụng cho giai đoạn trước khi Luật Doanh nghiệp năm 2020 có hiệu lực (trước ngày 01/01/2021).
-
Luật Cán bộ, công chức năm 2008, được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 52/2019/QH14 – quy định nghĩa vụ, quyền và những việc cán bộ, công chức không được làm, trong đó có việc thành lập, tham gia quản lý doanh nghiệp.
-
Luật Viên chức năm 2010, được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 52/2019/QH14 – quy định về viên chức, trong đó có các quy định về những việc viên chức không được làm liên quan đến hoạt động kinh doanh.
-
Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018 – quy định về xung đột lợi ích, nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập và các hành vi bị nghiêm cấm đối với người có chức vụ, quyền hạn, trong đó bao gồm hoạt động thành lập, tham gia quản lý doanh nghiệp trái quy định.
Nội dung chi tiết
Về nguyên tắc, tổ chức, cá nhân có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của Luật Doanh nghiệp, trừ các trường hợp bị pháp luật cấm. Quyền này là một trong những quyền cơ bản về tự do kinh doanh, được ghi nhận tại Hiến pháp và cụ thể hóa trong Luật Doanh nghiệp năm 2020. Người thành lập doanh nghiệp có quyền lựa chọn loại hình doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh và hình thức huy động vốn phù hợp, miễn là không thuộc đối tượng bị cấm và tuân thủ các điều kiện kinh doanh theo quy định.
Minh họa: Doanh nghiệp & hộ kinh doanh — Ảnh: Prime Minister's Office · GODL-India
Tuy nhiên, Khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp năm 2020 quy định tổ chức, cá nhân sau đây không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam: cơ quan nhà nước, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình; cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức; sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam; người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính khác theo quy định của pháp luật; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng.
Cần phân biệt cán bộ, công chức với viên chức để xác định chính xác đối tượng bị cấm. Cán bộ, công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập. Viên chức vẫn được thành lập doanh nghiệp trong một số trường hợp, trừ viên chức làm việc tại các vị trí mà pháp luật chuyên ngành có quy định hạn chế, chẳng hạn viên chức quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập hoặc viên chức thuộc diện quản lý cán bộ theo quy định về những việc không được làm.
Pháp luật cũng ghi nhận ngoại lệ nhất định: đối với cán bộ, công chức, việc góp vốn vào doanh nghiệp có thể bị hạn chế và phải tuân thủ nghĩa vụ kê khai, công khai theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng và các văn bản hướng dẫn; người đại diện theo ủy quyền chỉ được thực hiện các quyền của người đại diện trong phạm vi ủy quyền và theo đúng quy định của pháp luật về dân sự, doanh nghiệp, không được lợi dụng vị trí công tác để trục lợi.
Hậu quả khi vi phạm: cán bộ, công chức, viên chức vi phạm quy định về thành lập, tham gia quản lý doanh nghiệp sẽ bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị khiển trách, cảnh cáo, hạ bậc lương, giáng chức, cách chức hoặc buộc thôi việc; đồng thời có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hành vi cấu thành tội phạm, đặc biệt là các tội liên quan đến tham nhũng, lợi dụng chức vụ quyền hạn.
Quy trình thực hiện
- Xác định tư cách của bản thân: kiểm tra xem mình thuộc đối tượng cán bộ, công chức, viên chức hay đối tượng khác bị cấm thành lập, quản lý doanh nghiệp theo Khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp năm 2020 hay không.
- Rà soát quy định áp dụng: đối chiếu Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Luật Doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn liên quan để xác định phạm vi bị cấm, đặc biệt với viên chức cần kiểm tra quy định chuyên ngành về vị trí việc làm của mình.
- Nếu thuộc diện không được phép: không thành lập doanh nghiệp, không góp vốn thành lập, không tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp dưới bất kỳ hình thức nào, kể cả việc đứng tên người đại diện theo pháp luật.
- Nếu đang giữ tư cách thành viên, cổ đông, người quản lý doanh nghiệp: xem xét việc chuyển nhượng phần vốn góp, cổ phần hoặc rút khỏi bộ máy quản lý doanh nghiệp theo đúng trình tự, thủ tục của Luật Doanh nghiệp và điều lệ công ty.
- Nếu thuộc diện phải kê khai: rà soát nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập và kê khai lợi ích liên quan đến hoạt động kinh doanh theo Luật Phòng, chống tham nhũng và các văn bản hướng dẫn.
- Tham khảo cơ quan quản lý cán bộ, công chức, viên chức nơi công tác để được hướng dẫn, xác nhận chính thức trước khi thực hiện bất kỳ giao dịch nào liên quan đến doanh nghiệp, nhằm xử lý đúng quy định và tránh rủi ro pháp lý.
Lưu ý quan trọng
Cán bộ, công chức tuyệt đối không được thành lập và quản lý doanh nghiệp, kể cả việc đứng tên thành lập công ty, hợp tác xã, hộ kinh doanh có đăng ký hoặc tham gia điều hành hoạt động kinh doanh dưới bất kỳ danh nghĩa nào.
Viên chức không bị cấm tuyệt đối như cán bộ, công chức, nhưng viên chức giữ chức vụ quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập hoặc làm việc ở một số vị trí nhạy cảm vẫn có thể bị hạn chế thành lập, tham gia quản lý doanh nghiệp theo quy định pháp luật chuyên ngành và quy định nội bộ của đơn vị.
Việc góp vốn vào doanh nghiệp cũng có thể bị hạn chế đối với cán bộ, công chức và phải tuân thủ nghĩa vụ kê khai, công khai tài sản, thu nhập theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng; việc kê khai không trung thực có thể dẫn đến xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
Hành vi vi phạm quy định về thành lập, quản lý doanh nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức bị xử lý kỷ luật nghiêm khắc, từ khiển trách, cảnh cáo đến cách chức, buộc thôi việc, đồng thời có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Cần phân biệt với hoạt động kinh doanh nhỏ, phi đăng ký như bán hàng online, kinh doanh cá nhân không thành lập doanh nghiệp: mặc dù không thuộc phạm vi điều chỉnh về thành lập doanh nghiệp, nhưng cán bộ, công chức, viên chức vẫn phải bảo đảm hoạt động này không ảnh hưởng đến thời giờ làm việc, không lợi dụng vị trí công tác, không vi phạm quy định về những việc không được làm.
Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Để được tư vấn cụ thể cho từng trường hợp, vui lòng liên hệ với Luật An Dân Việt hoặc cơ quan có thẩm quyền.