Bối cảnh và căn cứ pháp lý
Ngày 12/02/2026, Cục Quản lý đất đai (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) ban hành Công văn số 396/QLĐĐ-TKKKTTĐĐ nhằm giải đáp một vướng mắc thực tế liên quan đến quyền tiếp cận thông tin đất đai của tổ chức, cá nhân. Nội dung công văn được xây dựng trên nền các quy định hiện hành, bao gồm: Điều 24 Luật Đất đai năm 2024 - điều khoản xác lập quyền được tiếp cận thông tin đất đai của công dân; Điều 61 Nghị định số 101/2024/NĐ-CP ngày 29/7/2024 - quy định những trường hợp cơ quan quản lý được phép từ chối cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai; cùng với Khoản 7 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định số 43/2014/NĐ-CP - nền tảng pháp lý về cách xác định thông tin của người sử dụng đất và thông tin của thửa đất.
Minh họa: Đất đai & nhà ở — Ảnh: USDAgov · Public domain
Nội dung chính được Công văn 396/QLĐĐ-TKKKTTĐĐ giải đáp
Xuất phát từ một tình huống cụ thể, công văn đề cập việc Văn phòng Đăng ký đất đai (VPĐKĐĐ) từ chối cung cấp thông tin, dữ liệu liên quan đến thửa đất số 435, tờ bản đồ số 5a thuộc quyền quản lý của một hộ gia đình. Cơ quan này căn cứ Khoản 3 Điều 61 Nghị định 101/2024/NĐ-CP để từ chối, với lý do chưa có sự đồng ý của người đang đứng tên sử dụng đất. Công văn chỉ rõ rằng cách vận dụng như vậy tiềm ẩn nguy cơ tước bỏ quyền tiếp cận thông tin chính đáng của những người có quyền lợi liên quan đến thửa đất, nếu việc từ chối không được đặt trên căn cứ pháp lý xác đáng, tương ứng với từng loại thông tin cụ thể được yêu cầu.
Ranh giới giữa thông tin người sử dụng đất và thông tin thửa đất
Một nội dung mấu chốt mà công văn làm rõ là sự cần thiết phải tách bạch hai nhóm thông tin: thông tin gắn với cá nhân, tổ chức đang sử dụng đất (như thông tin định danh của người sử dụng đất) và thông tin khách quan gắn liền với bản thân thửa đất (vị trí, diện tích, ranh giới, hiện trạng pháp lý...). Việc phân định này có ý nghĩa quyết định khi xác định ai có quyền được tiếp cận loại thông tin nào. Theo tinh thần của Khoản 7 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định 43/2014/NĐ-CP, không phải mọi loại thông tin liên quan đến thửa đất đều gắn chặt với điều kiện phải có sự đồng ý của người sử dụng đất hiện tại. Do đó, việc cơ quan quản lý áp dụng chung một điều kiện "phải có sự đồng ý" cho toàn bộ hồ sơ thửa đất, mà không phân biệt bản chất từng loại thông tin, có thể dẫn tới việc từ chối cung cấp thông tin trái với quy định, ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của bên có liên quan, chẳng hạn như đồng thừa kế, bên nhận chuyển nhượng hoặc bên đang có tranh chấp về thửa đất.
Trình tự thực hiện quyền yêu cầu cung cấp thông tin đất đai
Trên cơ sở các quy định được viện dẫn, trình tự để một cá nhân hoặc tổ chức thực hiện quyền tiếp cận thông tin đất đai theo Điều 24 Luật Đất đai năm 2024 có thể được khái quát như sau:
- Người có nhu cầu lập văn bản yêu cầu, nêu cụ thể thông tin, dữ liệu đất đai cần được cung cấp (số thửa, tờ bản đồ, loại thông tin cần tra cứu...) và gửi đến cơ quan có thẩm quyền quản lý, lưu trữ dữ liệu đất đai tại địa phương.
- Cơ quan tiếp nhận rà soát, đối chiếu yêu cầu với quy định hiện hành để xác định tính hợp lệ, đồng thời xác định thông tin được yêu cầu thuộc nhóm thông tin thửa đất hay thông tin người sử dụng đất.
- Căn cứ các trường hợp được liệt kê tại Điều 61 Nghị định 101/2024/NĐ-CP, cơ quan có thẩm quyền xem xét và quyết định cung cấp toàn bộ, cung cấp một phần, hoặc từ chối cung cấp thông tin.
- Trường hợp từ chối, cơ quan có trách nhiệm phản hồi bằng văn bản, nêu rõ căn cứ pháp lý cụ thể (điều, khoản áp dụng), không được từ chối một cách chung chung hoặc thiếu căn cứ rõ ràng.
Một số điểm cần lưu ý
Từ nội dung Công văn 396/QLĐĐ-TKKKTTĐĐ, có thể rút ra một số điểm đáng lưu ý đối với người dân khi thực hiện quyền tiếp cận thông tin đất đai theo Điều 24 Luật Đất đai năm 2024:
- Việc cơ quan quản lý từ chối cung cấp thông tin mà không viện dẫn đúng và đủ căn cứ tại Điều 61 Nghị định 101/2024/NĐ-CP tiềm ẩn rủi ro trái quy định; người yêu cầu có quyền kiến nghị hoặc khiếu nại để được làm rõ.
- Người có quyền lợi liên quan đến thửa đất, dù không phải là người đang đứng tên sử dụng đất, vẫn có thể có quyền tiếp cận một số loại thông tin về thửa đất, tùy theo tính chất của thông tin được yêu cầu, chiếu theo cách phân loại tại Khoản 7 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định 43/2014/NĐ-CP.
- Khi gửi yêu cầu, nên chuẩn bị đầy đủ giấy tờ, tài liệu chứng minh quyền và lợi ích liên quan đến thửa đất (hợp đồng chuyển nhượng, giấy tờ về thừa kế, giấy tờ công nhận quyền sử dụng đất...) để cơ quan có thẩm quyền có cơ sở xem xét thấu đáo.
- Thời hạn giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin, dữ liệu đất đai được ấn định cụ thể trong các văn bản hướng dẫn thi hành; người yêu cầu nên theo dõi tiến độ xử lý và đề nghị cơ quan phản hồi bằng văn bản nếu đã quá thời hạn mà chưa nhận được kết quả.
Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Để được tư vấn cụ thể cho từng trường hợp, vui lòng liên hệ với Luật An Dân Việt hoặc cơ quan có thẩm quyền.