Cơ sở pháp lý
Kể từ ngày 01/07/2026, việc tổ chức công tác kế toán tại các doanh nghiệp siêu nhỏ được thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 4 Thông tư 58/2026/TT-BTC. Quy định này xác lập khung pháp lý cho việc mở sổ kế toán và lập báo cáo tài chính áp dụng riêng cho nhóm doanh nghiệp có quy mô siêu nhỏ. Một điểm mấu chốt mà doanh nghiệp cần nắm là nghĩa vụ kế toán không được áp dụng đồng nhất cho mọi đối tượng, mà phải căn cứ vào phương pháp doanh nghiệp đang lựa chọn để kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT) và thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN). Nói cách khác, cách thức ghi chép sổ sách và mẫu biểu áp dụng sẽ khác nhau tùy theo doanh nghiệp đang nộp thuế theo phương pháp nào, và toàn bộ các điều khoản liên quan của Thông tư 58/2026/TT-BTC đều được xây dựng dựa trên nguyên tắc phân loại này. Đây cũng là lý do doanh nghiệp cần rà soát lại phương pháp kê khai thuế của mình trước khi bắt tay vào tổ chức lại hệ thống sổ sách kế toán theo quy định mới.
Minh họa: Doanh nghiệp & hộ kinh doanh — Ảnh: Prime Minister's Office · GODL-India
Nguyên tắc ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính
Nội dung cốt lõi về cách ghi sổ và lập báo cáo tài chính cho doanh nghiệp siêu nhỏ được trải rộng qua nhiều điều khoản của Thông tư, cụ thể là Điều 5, Điều 6, Điều 7, Điều 8 và Điều 10 của Thông tư 58/2026/TT-BTC. Mỗi điều khoản quy định một khía cạnh riêng trong quy trình kế toán, từ việc lựa chọn danh mục sổ sách phù hợp cho đến cách trình bày báo cáo tài chính cuối kỳ. Khi doanh nghiệp có sự thay đổi về phương pháp kê khai thuế GTGT hoặc TNDN trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp cần chủ động rà soát và chuyển sang áp dụng danh mục sổ kế toán tương ứng với phương pháp nộp thuế mới, thay vì tiếp tục sử dụng danh mục cũ đã không còn phù hợp với thực tế phát sinh.
Bên cạnh nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ, Thông tư cũng đặt ra yêu cầu tương tự đối với hộ kinh doanh và cá nhân kinh doanh. Các chủ thể này, khi thuộc diện áp dụng, cũng phải tuân thủ nguyên tắc ghi sổ và lập báo cáo theo cùng logic nêu trên, qua đó bảo đảm tính thống nhất trong cách hạch toán của toàn bộ khu vực kinh tế có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, tạo thuận lợi cho công tác quản lý và giám sát của cơ quan thuế.
Một số tình huống phát sinh cần lưu ý
Trong quá trình áp dụng chế độ kế toán dành cho doanh nghiệp siêu nhỏ, Thông tư 58/2026/TT-BTC cũng dự liệu sẵn cách xử lý cho một số tình huống thực tế thường gặp:
- Khi doanh nghiệp không còn đáp ứng tiêu chí quy mô siêu nhỏ: doanh nghiệp vẫn được tiếp tục áp dụng chế độ kế toán theo Thông tư này cho đến hết năm tài chính đang thực hiện dở dang; kể từ năm tài chính kế tiếp, doanh nghiệp mới bắt buộc phải chuyển đổi sang một chế độ kế toán khác phù hợp hơn với quy mô mới của mình.
- Khi doanh nghiệp muốn chuyển sang áp dụng chế độ kế toán của doanh nghiệp nhỏ và vừa: pháp luật cho phép doanh nghiệp siêu nhỏ được quyền lựa chọn áp dụng chế độ kế toán dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thay vì chế độ dành riêng cho doanh nghiệp siêu nhỏ. Tuy nhiên, một khi đã lựa chọn, doanh nghiệp phải áp dụng nhất quán chế độ đó xuyên suốt một năm tài chính, không được thay đổi qua lại giữa hai chế độ trong cùng một kỳ kế toán.
- Khi doanh nghiệp cần điều chỉnh biểu mẫu, chứng từ: doanh nghiệp được phép sửa đổi, bổ sung các biểu mẫu chứng từ kế toán cũng như hệ thống sổ kế toán cho phù hợp với đặc thù hoạt động của mình. Điều kiện đi kèm là việc sửa đổi đó không được trái với các nguyên tắc đã ấn định tại Luật Kế toán 2015, đồng thời vẫn phải bảo đảm phản ánh trung thực, đầy đủ mọi thông tin tài chính phát sinh trong kỳ.
- Khi doanh nghiệp sử dụng hóa đơn điện tử: doanh nghiệp có trách nhiệm theo dõi thường xuyên và thực hiện đối chiếu dữ liệu hóa đơn đã phát hành với số thuế phải nộp theo thông báo của cơ quan thuế, nhằm bảo đảm sự khớp đúng giữa dữ liệu kế toán nội bộ và dữ liệu mà cơ quan quản lý thuế đang ghi nhận, tránh phát sinh chênh lệch khi quyết toán.
Trình tự triển khai tại doanh nghiệp
Để áp dụng đúng và đầy đủ các quy định nêu trên, doanh nghiệp siêu nhỏ có thể tham khảo trình tự thực hiện theo các bước cơ bản sau:
- Xác định rõ phương pháp doanh nghiệp đang kê khai, nộp thuế GTGT và thuế TNDN, làm căn cứ để lựa chọn chế độ kế toán cùng danh mục sổ sách phù hợp.
- Tổ chức ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính theo đúng hướng dẫn tại các Điều 5, Điều 6, Điều 7, Điều 8 và Điều 10 của Thông tư 58/2026/TT-BTC.
- Trường hợp các tiêu chí xác định quy mô doanh nghiệp có sự thay đổi trong năm, tiếp tục áp dụng Thông tư cho đến hết năm tài chính hiện hành rồi mới chuyển đổi chế độ kế toán khác.
- Cân nhắc lựa chọn áp dụng chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa nếu phù hợp hơn với thực tế hoạt động, đồng thời duy trì áp dụng nhất quán trong suốt năm tài chính đã lựa chọn.
- Khi cần thiết, tiến hành sửa đổi, bổ sung biểu mẫu chứng từ và sổ kế toán, song song với việc bảo đảm tuân thủ đầy đủ các quy định của Luật Kế toán 2015.
- Đối với doanh nghiệp có phát hành, sử dụng hóa đơn điện tử, thực hiện đối chiếu định kỳ số thuế phải nộp với thông báo từ cơ quan thuế để kịp thời phát hiện và xử lý các sai lệch nếu có.
Khuyến nghị khi áp dụng
Việc tuân thủ đúng trình tự cũng như các nguyên tắc kế toán được nêu tại Thông tư 58/2026/TT-BTC không chỉ giúp doanh nghiệp siêu nhỏ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo quy định pháp luật, mà còn góp phần xây dựng nền tảng dữ liệu tài chính minh bạch, phục vụ hiệu quả cho công tác quản trị nội bộ lẫn các nghĩa vụ kê khai thuế về sau. Doanh nghiệp nên chủ động rà soát lại phương pháp nộp thuế GTGT, TNDN mà mình đang áp dụng, đối chiếu với danh mục sổ kế toán tương ứng theo từng điều khoản của Thông tư, đồng thời đặc biệt lưu ý mốc thời điểm có hiệu lực 01/07/2026 để chuẩn bị và chuyển đổi kịp thời, tránh gián đoạn hoặc sai sót trong quá trình vận hành hệ thống kế toán. Đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh thuộc diện áp dụng tương tự, việc chủ động tìm hiểu sớm các quy định nêu trên cũng giúp hạn chế rủi ro trong việc ghi chép sổ sách và lập báo cáo tài chính khi quy định chính thức có hiệu lực.
Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Để được tư vấn cụ thể cho từng trường hợp, vui lòng liên hệ với Luật An Dân Việt hoặc cơ quan có thẩm quyền.