Cơ sở pháp lý áp dụng
Ngày 28/8/2026, Cục Thuế ban hành Công văn số 6486/CT-QLNT nhằm giải đáp vướng mắc về chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) và thuế giá trị gia tăng (GTGT) liên quan đến khoản chi phục vụ công tác quản lý đội ngũ đại lý bảo hiểm cá nhân tại các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm. Nội dung hướng dẫn được xây dựng trên cơ sở các quy định hiện hành, cụ thể là: Khoản 1 Điều 9 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2025; Điều 5 và Khoản 1 Điều 9 Nghị định số 181/2025/NĐ-CP; cùng Khoản 1 Điều 13 và Điều 19 Thông tư số 96/2026/TT-BTC — văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 67/2023/TT-BTC.
Hệ thống căn cứ pháp lý nêu trên là nền tảng để xác định phạm vi các khoản chi được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế TNDN, đồng thời làm rõ nguyên tắc xác định thu nhập chịu thuế áp dụng riêng cho nhóm doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ.
Minh họa: Doanh nghiệp & hộ kinh doanh — Ảnh: Wim accountants · CC BY-SA 4.0
Bối cảnh phát sinh và nội dung hướng dẫn của cơ quan thuế
Vướng mắc được nêu ra xuất phát từ kiến nghị của Hiệp hội Doanh nghiệp Anh quốc tại Việt Nam (BritCham), xoay quanh cách thức ghi nhận khoản chi phục vụ việc quản lý các đại lý bảo hiểm là cá nhân. Trên cơ sở kiến nghị này, cơ quan thuế đã có hướng dẫn cụ thể, áp dụng đối với nhóm chủ thể gồm: doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, doanh nghiệp bảo hiểm sức khỏe, doanh nghiệp tái bảo hiểm và chi nhánh của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam.
Theo hướng dẫn nêu tại công văn, khoản chi phát sinh liên quan đến việc quản lý đại lý bảo hiểm cá nhân được xếp vào nhóm chi phí hình thành từ nguồn phí bảo hiểm mà doanh nghiệp thu được. Đây là điểm mấu chốt trong cách phân loại khoản chi này trên sổ sách kế toán, đồng thời là căn cứ để xác định nghĩa vụ thuế tương ứng của doanh nghiệp bảo hiểm.
Điều kiện để khoản chi được tính vào chi phí được trừ khi xác định thuế TNDN
Không phải mọi khoản chi cho công tác quản lý đại lý bảo hiểm cá nhân đều đương nhiên được xem là chi phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN. Theo hướng dẫn tại Công văn 6486/CT-QLNT, khoản chi này chỉ được tính vào chi phí được trừ nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 9 Nghị định số 320/2025/NĐ-CP.
Nói cách khác, trước khi hạch toán khoản chi quản lý đại lý vào chi phí hợp lệ, doanh nghiệp bảo hiểm cần rà soát, đối chiếu từng khoản chi thực tế phát sinh với bộ điều kiện được quy định tại điều khoản nêu trên, thay vì mặc định ghi nhận toàn bộ chi phí quản lý đại lý vào chi phí được trừ khi kê khai.
Chính sách thuế GTGT đối với hoa hồng và khoản thưởng của đại lý bảo hiểm
Bên cạnh vấn đề thuế TNDN, Công văn 6486/CT-QLNT còn làm rõ cách xử lý thuế GTGT đối với hai nhóm khoản thu có liên quan đến hoạt động đại lý bảo hiểm:
- Doanh thu hoa hồng phát sinh từ hoạt động đại lý bảo hiểm, cũng như hoa hồng thu được từ hoạt động môi giới dịch vụ bảo hiểm, thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT.
- Ngược lại, các khoản tiền thưởng gắn với kết quả bán hàng của đại lý bảo hiểm lại thuộc diện phải chịu thuế GTGT theo quy định hiện hành.
Sự phân định này đòi hỏi doanh nghiệp bảo hiểm và bộ phận kế toán cần tách bạch rõ ràng ngay từ khâu hạch toán ban đầu: một bên là khoản hoa hồng đại lý, hoa hồng môi giới (không chịu thuế GTGT), một bên là khoản thưởng theo doanh số bán hàng (chịu thuế GTGT), nhằm tránh áp dụng sai chính sách thuế dẫn đến kê khai thiếu chính xác hoặc sai sót khi quyết toán.
Trình tự các bước doanh nghiệp cần thực hiện
Để áp dụng đúng nội dung hướng dẫn nêu trên vào thực tế, doanh nghiệp bảo hiểm có thể triển khai theo trình tự sau:
- Rà soát, xác định khoản chi quản lý đại lý bảo hiểm cá nhân phát sinh thực tế tại doanh nghiệp, bảo đảm phù hợp với quy định pháp luật hiện hành.
- Thu thập và lưu giữ đầy đủ hóa đơn, chứng từ gốc nhằm chứng minh khoản chi này có liên quan trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
- Đối chiếu từng khoản chi với các điều kiện được trừ quy định tại Điều 9 Nghị định 320/2025/NĐ-CP trước khi hạch toán vào chi phí hợp lệ.
- Thực hiện kê khai thuế TNDN và thuế GTGT theo đúng quy định pháp luật, trong đó tách riêng khoản hoa hồng đại lý, hoa hồng môi giới (không chịu thuế GTGT) với khoản thưởng theo doanh số (chịu thuế GTGT).
Một số điểm doanh nghiệp cần lưu ý
Doanh nghiệp cần đặc biệt lưu tâm đến tính hợp lệ của hóa đơn, chứng từ đi kèm khoản chi quản lý đại lý bảo hiểm cá nhân. Các chứng từ này phải phản ánh đúng bản chất của giao dịch thực tế phát sinh, gắn liền với hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời, đối với những khoản chi thuộc diện bắt buộc phải thanh toán không dùng tiền mặt theo quy định pháp luật, doanh nghiệp cần tuân thủ đầy đủ điều kiện về chứng từ thanh toán tương ứng.
Nếu không đáp ứng đầy đủ các điều kiện nêu trên, doanh nghiệp có nguy cơ bị loại khoản chi này khỏi phạm vi chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN. Ngoài ra, doanh nghiệp còn có thể phải đối mặt với các chế tài xử phạt vi phạm hành chính về thuế theo quy định pháp luật hiện hành nếu việc kê khai, hạch toán không chính xác.
Việc phân định rõ ràng giữa khoản chi được trừ và khoản chi không được trừ, cũng như giữa khoản thu chịu thuế GTGT và khoản thu không chịu thuế GTGT, không chỉ giúp doanh nghiệp bảo hiểm tuân thủ đúng quy định pháp luật về thuế mà còn góp phần hạn chế rủi ro phát sinh trong quá trình thanh tra, kiểm tra thuế sau này.
Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Để được tư vấn cụ thể cho từng trường hợp, vui lòng liên hệ với Luật An Dân Việt hoặc cơ quan có thẩm quyền.