Cơ sở pháp lý
-
Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 ngày 21/11/2007, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 26/2012/QH13 ngày 22/11/2012;
-
Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019;
-
Thông tư số 111/2013/TT-BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Luật Thuế TNCN, trong đó Điểm đ khoản 2 Điều 2 và Điều 7 quy định về tiền thuê nhà do đơn vị trả thay và quy đổi thu nhập sau thuế;
-
Thông tư số 92/2015/TT-BTC ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 111/2013/TT-BTC;
-
Nghị quyết số 954/2020/UBTVQH14 ngày 02/6/2020 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh của thuế thu nhập cá nhân;
-
Thông tư số 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 126/2020/NĐ-CP.
Nội dung chi tiết
Khoản tiền thuê nhà do đơn vị, tổ chức trả thay cho cá nhân được xác định là thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công. Tuy nhiên, khoản tiền thuê nhà này chỉ được tính vào thu nhập chịu thuế ở mức không vượt quá 15% tổng thu nhập chịu thuế phát sinh tại đơn vị trả thay, trong đó tổng thu nhập chịu thuế được xác định chưa bao gồm tiền thuê nhà. Phần tiền thuê nhà vượt quá 15% sẽ không được tính vào thu nhập chịu thuế của cá nhân.
Minh họa: Doanh nghiệp & hộ kinh doanh — Ảnh: Geoff Charles · CC BY-SA 4.0
Khi xác định thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công có tiền thuê nhà trả thay, người sử dụng lao động cần cộng toàn bộ các khoản thu nhập chịu thuế khác (tiền lương, tiền công, phụ cấp, trợ cấp và các khoản thu nhập chịu thuế khác) để xác định tổng thu nhập chịu thuế chưa gồm tiền thuê nhà, sau đó tính 15% của tổng thu nhập chịu thuế này làm mức trần. Khoản tiền thuê nhà thực tế trả thay thấp hơn mức trần thì tính toàn bộ; nếu cao hơn mức trần thì chỉ tính phần bằng mức trần vào thu nhập chịu thuế. Trên cơ sở đó, thu nhập chịu thuế cuối cùng được dùng để tính thuế theo biểu thuế lũy tiến từng phần.
Đối với trường hợp cá nhân nhận lương sau thuế (lương NET, là tiền lương thực nhận sau khi đã trừ thuế TNCN), doanh nghiệp phải quy đổi thu nhập thực nhận sang thu nhập tính thuế (lương GROSS) theo công thức quy định. Công thức quy đổi lấy thu nhập thực nhận cộng với các khoản được giảm trừ, sau đó quy đổi theo bảng quy đổi thu nhập tương ứng với từng bậc thuế của biểu thuế lũy tiến từng phần để xác định thu nhập tính thuế, từ đó tính ra số thuế TNCN phải nộp mà doanh nghiệp phải khấu trừ tại nguồn.
Khi quy đổi thu nhập thực nhận sang thu nhập tính thuế, các khoản được trừ gồm: số thuế TNCN đã khấu trừ (nếu có), các khoản bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp bắt buộc mà cá nhân phải nộp, các khoản đóng quỹ hưu trí tự nguyện theo quy định, khoản giảm trừ gia cảnh cho bản thân (11 triệu đồng/tháng) và người phụ thuộc (4,4 triệu đồng/người/tháng) theo Nghị quyết số 954/2020/UBTVQH14, cùng các khoản giảm trừ khác theo quy định.
Đối với phần thu nhập từ tiền lương, tiền công của người lao động làm việc ban đêm, làm thêm giờ, nếu được trả cao hơn so với tiền lương, tiền công tính theo đúng số giờ làm việc ban ngày thì phần tiền lương, tiền công trả cao hơn do làm việc ban đêm, làm thêm giờ được miễn thuế TNCN. Doanh nghiệp cần tách riêng phần chênh lệch được miễn thuế này trước khi tính thuế và quy đổi thu nhập cho chính xác.
Quy trình thực hiện
- Xác định các khoản thu nhập chịu thuế và các khoản thu nhập được miễn thuế của cá nhân, trong đó tách riêng phần tiền lương làm thêm giờ, làm ban đêm được miễn thuế;
- Xác định khoản tiền thuê nhà do đơn vị trả thay cho cá nhân trong kỳ;
- Tính tổng thu nhập chịu thuế (chưa gồm tiền thuê nhà) và xác định mức trần 15% của tổng thu nhập chịu thuế này để xác định phần tiền thuê nhà được tính vào thu nhập chịu thuế;
- Quy đổi thu nhập thực nhận (lương NET) sang thu nhập tính thuế (lương GROSS) theo công thức và bảng quy đổi, sau khi trừ các khoản bảo hiểm bắt buộc, giảm trừ gia cảnh và các khoản giảm trừ khác;
- Tính số thuế TNCN phải nộp theo biểu thuế lũy tiến từng phần trên thu nhập tính thuế đã quy đổi;
- Khấu trừ thuế tại nguồn hàng tháng, kê khai theo kỳ và thực hiện quyết toán thuế TNCN theo quy định của Luật Quản lý thuế và Thông tư số 80/2021/TT-BTC.
Lưu ý quan trọng
Phần tiền thuê nhà do đơn vị trả thay vượt quá 15% tổng thu nhập chịu thuế chưa gồm tiền thuê nhà thì phần vượt không được tính vào thu nhập chịu thuế, nhưng nếu đơn vị đã trả thay thì khoản chi này phải đảm bảo đúng quy định về chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp và phải có chứng từ thanh toán hợp lệ.
Khi quy đổi lương NET sang lương GROSS, doanh nghiệp phải áp dụng đúng công thức và bảng quy đổi tương ứng với từng bậc thuế, đồng thời đối chiếu giữa số thuế đã quy đổi với số thuế thực tế khấu trừ để tránh sai lệch dẫn đến thiếu hoặc thừa thuế phải nộp.
Khoản tiền lương làm thêm giờ, làm việc ban đêm chỉ được miễn thuế phần chênh lệch giữa số tiền thực trả cao hơn so với tiền lương tính theo giờ làm việc ban ngày; phần tiền lương tính theo giờ ban ngày vẫn phải chịu thuế TNCN bình thường.
Doanh nghiệp cần lưu giữ đầy đủ chứng từ, hợp đồng lao động, chứng từ chi trả tiền thuê nhà, chứng từ nộp bảo hiểm và hồ sơ giảm trừ gia cảnh để phục vụ khấu trừ thuế và giải trình với cơ quan thuế khi cần thiết.
Các quy định về thuế TNCN thường xuyên được sửa đổi, bổ sung; doanh nghiệp cần theo dõi cập nhật các văn bản mới nhất của Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Bộ Tài chính để áp dụng kịp thời.
Trong quá trình xác định nghĩa vụ thuế TNCN, nếu có vướng mắc về cách xác định tiền thuê nhà trả thay, quy đổi thu nhập hoặc các khoản miễn thuế, doanh nghiệp và cá nhân nên liên hệ với cơ quan thuế quản lý trực tiếp để được hướng dẫn cụ thể, tránh rủi ro về thuế và phạt vi phạm hành chính.
Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Để được tư vấn cụ thể cho từng trường hợp, vui lòng liên hệ với Luật An Dân Việt hoặc cơ quan có thẩm quyền.