Cơ sở pháp lý hiện hành
Vấn đề bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất hiện được điều chỉnh trực tiếp bởi Nghị định số 88/2024/NĐ-CP, ban hành ngày 15/7/2024, quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Đây là văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các nội dung liên quan đến bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo Luật Đất đai.
Trải qua quá trình áp dụng, Nghị định 88/2024/NĐ-CP đã được sửa đổi, bổ sung bởi các văn bản sau:
- Nghị định 226/2025/NĐ-CP: sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai.
- Nghị định 151/2025/NĐ-CP: quy định việc phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực đất đai.
- Nghị định 49/2026/NĐ-CP: quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị quyết 254/2025/QH15 của Quốc hội về cơ chế, chính sách tháo gỡ khó khăn trong tổ chức thi hành Luật Đất đai.
Như vậy, khung pháp lý điều chỉnh việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất hiện nay là sự kết hợp giữa Nghị định 88/2024/NĐ-CP (văn bản gốc) và ba nghị định sửa đổi, bổ sung nêu trên. Khi tra cứu áp dụng cho một trường hợp cụ thể, cần đối chiếu đồng thời các văn bản này để xác định đúng quy định đang có hiệu lực tại thời điểm phát sinh sự việc.
Minh họa: Đất đai & nhà ở — Ảnh: Amenoc · CC0
Đối tượng áp dụng
Nghị định 88/2024/NĐ-CP xác định rõ các nhóm chủ thể chịu sự điều chỉnh khi Nhà nước thực hiện thu hồi đất, cụ thể gồm:
- Cơ quan nhà nước được giao thực hiện quyền hạn, trách nhiệm đại diện chủ sở hữu toàn dân đối với đất đai;
- Người có đất bị thu hồi và chủ sở hữu tài sản gắn liền với diện tích đất bị thu hồi;
- Các tổ chức, cá nhân khác có quyền và nghĩa vụ liên quan trực tiếp đến việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.
Việc xác định đúng đối tượng áp dụng ngay từ đầu là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền lập phương án bồi thường phù hợp với từng trường hợp cụ thể, tránh bỏ sót quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất cũng như chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất.
Quy định chuyển tiếp về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Một nội dung được người dân và doanh nghiệp đặc biệt quan tâm là các quy định chuyển tiếp, hiện được nêu tại Điều 19 Nghị định 49/2026/NĐ-CP. Theo đó:
- Đối với trường hợp đã có quyết định thu hồi đất, đồng thời đã có quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được ban hành trước ngày 31/01/2026, thì phương án đã phê duyệt tiếp tục được thực hiện, không phải điều chỉnh lại theo quy định mới.
- Ngược lại, nếu tính đến trước thời điểm Nghị định này có hiệu lực mà phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chưa được phê duyệt, thì việc thực hiện phải tuân theo quy định của Luật Đất đai, Nghị quyết 254/2025/QH15 và Nghị định 49/2026/NĐ-CP.
- Đối với dự án mà một phần diện tích đất đã có phương án được phê duyệt nhưng phần diện tích còn lại chưa được phê duyệt, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền xem xét, quyết định việc áp dụng quy định pháp luật tại thời điểm phương án đã được phê duyệt trước đó, hoặc áp dụng quy định có hiệu lực tại thời điểm Luật Đất đai đang thi hành, tùy theo tình hình thực tế của từng dự án.
- Trường hợp thông báo thu hồi đất đã ban hành mà vẫn còn hiệu lực tính đến sau ngày 31/01/2026, thì việc thu hồi đất tiếp tục được thực hiện theo đúng nội dung thông báo đã ban hành trước đó.
Các quy định chuyển tiếp nêu trên nhằm bảo đảm tính liên tục, tránh xáo trộn đối với những dự án, phương án đã và đang được triển khai trong giai đoạn giao thời giữa Nghị định 88/2024/NĐ-CP và các văn bản sửa đổi, bổ sung sau này.
Trình tự thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
Quá trình thu hồi đất gắn với bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nhìn chung trải qua các bước cơ bản sau:
- Xác định người có đất bị thu hồi và tài sản gắn liền với đất thuộc diện thu hồi.
- Lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
- Trình cấp có thẩm quyền xem xét, phê duyệt chính thức phương án đã lập.
- Chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho các chủ thể có quyền lợi liên quan theo phương án đã được phê duyệt.
- Bố trí tái định cư cho hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu, bảo đảm nơi ở mới đáp ứng các điều kiện theo quy định.
Trình tự nêu trên có thể được vận dụng linh hoạt tùy theo tính chất, quy mô từng dự án, nhưng về nguyên tắc vẫn phải tuân thủ đầy đủ các bước do Luật Đất đai và các nghị định hướng dẫn quy định, nhằm bảo đảm công khai, minh bạch và quyền lợi hợp pháp của người có đất bị thu hồi.
Một số điểm cần lưu ý khi áp dụng
- Khung pháp lý về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư hiện là tổng hợp của nhiều văn bản khác nhau; do đó, khi giải quyết một trường hợp cụ thể, cần rà soát đồng thời Nghị định 88/2024/NĐ-CP cùng các nghị định 226/2025/NĐ-CP, 151/2025/NĐ-CP và 49/2026/NĐ-CP để xác định chính xác quy định đang được áp dụng.
- Mốc thời gian 31/01/2026 có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định phương án bồi thường nào tiếp tục được thực hiện theo phương án đã phê duyệt và phương án nào phải áp dụng theo quy định chuyển tiếp mới.
- Thẩm quyền lựa chọn văn bản áp dụng đối với dự án có một phần diện tích đất chưa phê duyệt phương án được giao cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, nhằm phù hợp với tình hình triển khai thực tế tại từng địa phương.
- Đối với thông báo thu hồi đất đã ban hành và còn hiệu lực, người có đất bị thu hồi cần theo dõi sát nội dung thông báo để nắm rõ quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình thực hiện.
Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Để được tư vấn cụ thể cho từng trường hợp, vui lòng liên hệ với Luật An Dân Việt hoặc cơ quan có thẩm quyền.