Cơ sở pháp lý
-
Nghị định số 126/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Quản lý thuế, trong đó Điều 17 quy định về kê khai và tạm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN);
-
Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14 ngày 13/6/2019, trong đó Điều 55 quy định về khai thuế, khai quyết toán thuế và Điều 56 quy định về nộp thuế, thời hạn nộp thuế;
-
Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp;
-
Thông tư số 80/2021/TT-BTC ngày 29/9/2021 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 126/2020/NĐ-CP;
-
Thông tư số 151/2014/TT-BTC ngày 10/10/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số nội dung về thuế TNDN, là căn cứ của quy định cũ về tạm nộp thuế TNDN trước thời điểm Nghị định 126/2020/NĐ-CP có hiệu lực.
Nội dung chi tiết
Theo quy định hiện hành, doanh nghiệp có nghĩa vụ tạm nộp thuế TNDN hằng quý căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh của quý. Doanh nghiệp tự xác định số thuế TNDN tạm nộp của quý trên cơ sở ước tính thu nhập chịu thuế, các khoản chi được trừ và thuế suất áp dụng, sau đó kê khai và nộp tiền thuế vào ngân sách nhà nước. Thời hạn nộp tiền thuế tạm nộp của quý chậm nhất là ngày 30 của tháng đầu tiên của quý tiếp theo, tức doanh nghiệp phải nộp hết số thuế tạm nộp của quý trước khi bước sang quý sau.
Minh họa: Doanh nghiệp & hộ kinh doanh — Ảnh: Basher Eyre · CC BY-SA 2.0
Điểm mới đáng chú ý của Nghị định 126/2020/NĐ-CP là quy định về mức tạm nộp tối thiểu: tổng số thuế TNDN đã tạm nộp của 3 quý đầu năm tính thuế không được thấp hơn 75% số thuế TNDN phải nộp theo quyết toán năm. Quý 4 không phải kê khai tạm nộp riêng mà được xác định căn cứ vào số thuế phải nộp theo quyết toán năm sau khi đã trừ đi số thuế đã tạm nộp của 3 quý đầu năm.
Trường hợp doanh nghiệp tạm nộp thiếu, tức tổng số thuế TNDN đã tạm nộp của 3 quý đầu năm thấp hơn 75% số thuế TNDN phải nộp theo quyết toán năm, thì doanh nghiệp phải nộp tiền chậm nộp tính trên số thuế còn thiếu so với mức 75%. Số tiền chậm nộp được tính từ ngày tiếp sau ngày cuối cùng của thời hạn tạm nộp thuế quý 3 đến ngày doanh nghiệp nộp số thuế còn thiếu vào ngân sách nhà nước.
So với quy định cũ, trước đây theo bối cảnh hướng dẫn tại Thông tư 151/2014/TT-BTC, mức tạm nộp tối thiểu trong một số thời kỳ được ấn định ở tỷ lệ 80% số thuế phải nộp theo quyết toán năm. Nghị định 126/2020/NĐ-CP điều chỉnh mức này xuống còn 75% nhưng đồng thời quy định rõ hơn chế tài tiền chậm nộp, qua đó vừa tạo thuận lợi về dòng tiền cho doanh nghiệp, vừa tăng trách nhiệm tạm nộp đúng, hạn chế tình trạng dồn nộp vào cuối năm, giảm chênh lệch giữa số tạm nộp và số phải nộp theo quyết toán.
Quy định về mức tạm nộp 75% nêu trên chính thức áp dụng từ kỳ tính thuế năm 2021. Theo đó, khi doanh nghiệp quyết toán thuế TNDN của năm 2021 trở đi, việc so sánh giữa số thuế đã tạm nộp của 3 quý đầu năm và số thuế phải nộp theo quyết toán sẽ được thực hiện theo tỷ lệ quy định tại Nghị định 126/2020/NĐ-CP.
Quy trình thực hiện
- Xác định số thuế TNDN tạm nộp của từng quý căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh của quý đó, bao gồm ước tính thu nhập chịu thuế, chi phí được trừ và thuế suất áp dụng.
- Kê khai và nộp tiền thuế TNDN tạm nộp theo quý đúng thời hạn, chậm nhất là ngày 30 của tháng đầu quý tiếp theo đối với quý 1, quý 2 và quý 3 của năm tính thuế.
- Cuối năm tính thuế, lập hồ sơ quyết toán thuế TNDN theo mẫu quy định, xác định tổng số thuế TNDN phải nộp của cả năm.
- So sánh tổng số thuế TNDN đã tạm nộp của 3 quý đầu năm với 75% số thuế TNDN phải nộp theo quyết toán năm để xác định mức độ hoàn thành nghĩa vụ tạm nộp.
- Nếu tổng số tạm nộp thấp hơn 75% số thuế phải nộp theo quyết toán, doanh nghiệp nộp bổ sung phần chênh lệch còn thiếu và tiền chậm nộp tính trên số thuế thiếu, theo mức lãi suất chậm nộp quy định.
- Trường hợp số thuế đã tạm nộp đạt tối thiểu 75%, doanh nghiệp chỉ cần nộp phần chênh lệch còn lại giữa số thuế theo quyết toán và số thuế đã tạm nộp, chậm nhất là ngày cuối cùng của thời hạn nộp hồ sơ quyết toán thuế năm.
Lưu ý quan trọng
Tỷ lệ 75% được xác định trên tổng số thuế TNDN đã tạm nộp của 3 quý đầu năm tính thuế so với tổng số thuế TNDN phải nộp theo quyết toán năm. Doanh nghiệp cần ghi nhận đây là nghĩa vụ bắt buộc, không phải là mức khuyến nghị.
Nếu doanh nghiệp tạm nộp thiếu dưới 75% số thuế phải nộp theo quyết toán, doanh nghiệp sẽ bị tính tiền chậm nộp trên số thuế còn thiếu. Khoản tiền chậm nộp này làm tăng chi phí tài chính, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp.
Để tránh bị phạt chậm nộp, doanh nghiệp nên dự kiến số thuế TNDN phải nộp sát với thực tế kinh doanh ngay từ đầu năm, ưu tiên tạm nộp đầy đủ ở quý 3 và có thể tính phương án điều chỉnh tạm nộp khi kết quả kinh doanh cả năm đã tương đối rõ ràng.
Doanh nghiệp cần theo dõi, cập nhật các văn bản hướng dẫn mới của Bộ Tài chính, đặc biệt là Thông tư 80/2021/TT-BTC và các văn bản sửa đổi, bổ sung liên quan, để áp dụng đúng quy định tại từng thời điểm.
Việc kê khai, xác định số thuế tạm nộp và quyết toán thuế phải trung thực, chính xác, có chứng từ hợp lệ theo quy định của pháp luật về thuế và kế toán. Mọi hành vi khai sai, khai thiếu đều có thể bị xử lý theo quy định.
Nội dung bài viết chỉ mang tính tham khảo. Doanh nghiệp nên liên hệ với cơ quan thuế quản lý trực tiếp hoặc chuyên gia tư vấn thuế để được hỗ trợ, hướng dẫn cụ thể phù hợp với tình hình thực tế của từng đơn vị.
Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Để được tư vấn cụ thể cho từng trường hợp, vui lòng liên hệ với Luật An Dân Việt hoặc cơ quan có thẩm quyền.