Căn cứ pháp lý
Chính sách miễn thuế thu nhập cá nhân đối với khoản thu nhập phát sinh từ quyền tác giả gắn liền với nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được quy định tại Điều 36 Nghị định 253/2026/NĐ-CP. Theo đó, thu nhập từ quyền tác giả chỉ được đưa vào diện miễn thuế khi kết quả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo tương ứng đã được thương mại hóa đúng theo quy định của pháp luật về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, đồng thời phù hợp với pháp luật về sở hữu trí tuệ. Riêng khái niệm và các điều kiện của việc thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo được dẫn chiếu và làm rõ tại Điều 27 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Như vậy, hai văn bản này có mối liên hệ trực tiếp với nhau: Nghị định 253/2026/NĐ-CP đưa ra chính sách ưu đãi thuế, còn Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (Điều 27) đưa ra khung pháp lý để xác định thế nào là "thương mại hóa hợp pháp" — tiêu chí quyết định việc một khoản thu nhập từ quyền tác giả có được công nhận là đối tượng miễn thuế hay không.
Minh họa: Doanh nghiệp & hộ kinh doanh — Ảnh: Press Information Department · Public domain
Điều kiện để thu nhập từ quyền tác giả được miễn thuế thu nhập cá nhân
Không phải mọi khoản thu nhập từ quyền tác giả phát sinh trong quá trình thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đều đương nhiên được miễn thuế. Điều kiện tiên quyết là kết quả của nhiệm vụ đó phải trải qua một quá trình thương mại hóa hợp lệ, tức là đã được chủ sở hữu hoặc tổ chức được giao quyền quản lý, sử dụng đưa vào khai thác dưới một trong các hình thức thương mại hóa mà pháp luật cho phép.
Nói cách khác, việc miễn thuế không áp dụng cho toàn bộ thu nhập từ quyền tác giả một cách mặc nhiên, mà gắn chặt với hành vi thương mại hóa cụ thể, được thực hiện đúng trình tự, đúng thẩm quyền và tuân thủ các quy định liên quan đến sở hữu trí tuệ. Nếu quá trình thương mại hóa không diễn ra, hoặc diễn ra nhưng không tuân thủ đầy đủ quy định của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo cũng như pháp luật sở hữu trí tuệ, khoản thu nhập tương ứng sẽ không đủ căn cứ để được xét miễn thuế thu nhập cá nhân.
Quyền quyết định và các hình thức thương mại hóa kết quả nghiên cứu
Điều 27 Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo xác lập rõ ai là chủ thể có quyền quyết định việc thương mại hóa và những hình thức nào được công nhận là thương mại hóa hợp pháp, cụ thể như sau:
Thứ nhất, chủ sở hữu của kết quả nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo có toàn quyền tự quyết định việc có thương mại hóa kết quả đó hay không, mà không bị ràng buộc bởi ý chí của bên thứ ba.
Thứ hai, đối với tổ chức được giao quyền quản lý, sử dụng kết quả nghiên cứu, tổ chức này được trao quyền tự chủ trong việc lựa chọn hình thức thương mại hóa, phương án triển khai, mức giá áp dụng cũng như cách thức phân chia lợi nhuận thu được. Các hình thức thương mại hóa được pháp luật ghi nhận bao gồm: cho thuê quyền sử dụng; bán hoặc chuyển nhượng; chuyển giao quyền sử dụng; kinh doanh dịch vụ dựa trên kết quả nghiên cứu; hợp tác, liên doanh, liên kết hoặc thành lập doanh nghiệp để khai thác kết quả; và tự mình khai thác, sử dụng kết quả nghiên cứu.
Thứ ba, đối với trường hợp nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có sử dụng một phần kinh phí từ ngân sách nhà nước, tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ được giao quyền quản lý, sử dụng và quyền sở hữu đối với phần kết quả tương ứng với phần kinh phí ngân sách nhà nước đã sử dụng. Tổ chức chủ trì có quyền tự quyết định việc đàm phán, thỏa thuận với các đồng chủ sở hữu khác (nếu có) để tiến hành thương mại hóa phần kết quả này.
Thứ tư, tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ có trách nhiệm chủ động áp dụng các biện pháp nhằm phòng ngừa và ngăn chặn tình trạng thất thoát, lãng phí hoặc tiêu cực trong quá trình thương mại hóa, đồng thời phải bảo đảm tính công khai, minh bạch của toàn bộ thông tin liên quan đến hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Thứ năm, cơ quan chủ quản của tổ chức chủ trì có trách nhiệm thực hiện việc kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng kết quả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhằm kịp thời phát hiện và ngăn chặn các hành vi gây thất thoát, lãng phí hoặc tiêu cực.
Thứ sáu, Chính phủ được giao thẩm quyền quy định chi tiết các nội dung liên quan đến việc thương mại hóa nêu trên, tạo cơ sở để các văn bản dưới luật như Nghị định 253/2026/NĐ-CP cụ thể hóa thành chính sách miễn thuế thu nhập cá nhân.
Trình tự thực hiện để được xem xét miễn thuế
Để một khoản thu nhập từ quyền tác giả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có cơ sở được miễn thuế thu nhập cá nhân, cá nhân và tổ chức liên quan cần thực hiện tuần tự các bước sau:
Bước một, rà soát và xác định rõ kết quả của nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ hoặc đổi mới sáng tạo có khả năng đưa vào khai thác thương mại hay không, dựa trên tính khả thi, giá trị ứng dụng và tình trạng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ.
Bước hai, chủ sở hữu hoặc tổ chức được giao quyền quản lý kết quả nghiên cứu tiến hành lựa chọn hình thức thương mại hóa phù hợp trong số các hình thức đã được pháp luật ghi nhận, đồng thời cân nhắc phương án khai thác và cơ chế phân chia lợi ích.
Bước ba, các bên liên quan xác lập hợp đồng thương mại hóa, trong đó cần quy định rõ thời hạn thực hiện, quyền và nghĩa vụ tương ứng của từng bên, cũng như các nội dung về giá cho thuê, điều kiện chuyển giao quyền sử dụng, giá bán hoặc điều khoản chuyển nhượng.
Bước bốn, trong suốt quá trình triển khai, tổ chức chủ trì phải đồng thời thực hiện các biện pháp phòng ngừa thất thoát, lãng phí, tiêu cực, và thực hiện báo cáo kết quả thương mại hóa khi có yêu cầu từ cơ quan quản lý có thẩm quyền, làm cơ sở để cơ quan thuế xem xét việc áp dụng chính sách miễn thuế đối với thu nhập từ quyền tác giả liên quan.
Một số lưu ý khi triển khai
Trên thực tế, rủi ro lớn nhất khiến thu nhập từ quyền tác giả không được công nhận diện miễn thuế thường xuất phát từ việc quá trình thương mại hóa không tuân thủ đúng quy định pháp luật — chẳng hạn bỏ qua bước xác lập hợp đồng, không minh bạch thông tin, hoặc thực hiện không đúng thẩm quyền được giao. Vì vậy, các bên cần xác định rõ ràng, cụ thể mốc thời gian thực hiện từng giai đoạn thương mại hóa ngay trong nội dung hợp đồng, tránh tình trạng kéo dài hoặc thực hiện không đầy đủ.
Bên cạnh đó, tổ chức chủ trì và chủ sở hữu kết quả nghiên cứu cần chủ động lưu giữ đầy đủ hồ sơ, chứng từ liên quan đến toàn bộ quá trình thương mại hóa — từ giai đoạn xác định kết quả có thể khai thác, lựa chọn hình thức, ký kết hợp đồng, cho đến báo cáo kết quả thực hiện. Đây là căn cứ quan trọng để giải trình với cơ quan chức năng khi được yêu cầu, đồng thời là điều kiện cần thiết để bảo đảm thu nhập từ quyền tác giả của nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được xem xét áp dụng chính sách miễn thuế thu nhập cá nhân theo đúng quy định.
Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Để được tư vấn cụ thể cho từng trường hợp, vui lòng liên hệ với Luật An Dân Việt hoặc cơ quan có thẩm quyền.