Cơ sở pháp lý
-
Nghị định 81/2015/NĐ-CP ngày 22/9/2015 của Chính phủ về công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước;
-
Nghị định 91/2015/NĐ-CP ngày 13/10/2015 của Chính phủ về đầu tư vốn nhà nước vào doanh nghiệp và quản lý tài chính doanh nghiệp nhà nước;
-
Nghị định 131/2018/NĐ-CP ngày 29/9/2018 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp;
-
Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14 ngày 17/6/2020;
-
Nghị định 47/2021/NĐ-CP ngày 01/4/2021 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật Doanh nghiệp về tổ chức lại doanh nghiệp nhà nước.
Nội dung chi tiết
Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, bao gồm công ty do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ và công ty do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ nhưng dưới 100% vốn điều lệ. Theo quy định tại Nghị định 81/2015/NĐ-CP, doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện công bố thông tin nhằm bảo đảm công khai, minh bạch hoạt động sản xuất, kinh doanh và quản trị doanh nghiệp trước cơ quan đại diện chủ sở hữu và các tổ chức, cá nhân có liên quan.
Minh họa: Doanh nghiệp & hộ kinh doanh — Ảnh: Prime Minister's Office · GODL-India
Về nghĩa vụ công bố thông tin định kỳ, doanh nghiệp nhà nước phải công bố báo cáo tài chính năm đã được kiểm toán, báo cáo tài chính bán niên, báo cáo tình hình quản trị doanh nghiệp và các nội dung liên quan như thù lao, tiền lương, thưởng của thành viên Hội đồng thành viên, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc và người quản lý doanh nghiệp. Nội dung, mẫu biểu và thời hạn công bố từng loại thông tin được quy định cụ thể trong Nghị định 81/2015/NĐ-CP và văn bản hướng dẫn liên quan.
Bên cạnh thông tin định kỳ, doanh nghiệp nhà nước còn phải công bố thông tin bất thường khi xảy ra các sự việc ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, kinh doanh như thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh, thay đổi lớn về tổ chức, nhân sự lãnh đạo, kế hoạch sản xuất, kinh doanh, thay đổi ngành, nghề kinh doanh chính hoặc các sự kiện khác theo yêu cầu của cơ quan đại diện chủ sở hữu. Thông tin bất thường phải được công bố kịp thời, đầy đủ và chính xác ngay khi phát sinh sự việc.
Về thời hạn công bố, doanh nghiệp phải công bố thông tin trong thời hạn theo quy định sau khi báo cáo tài chính, báo cáo quản trị được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Về hình thức công bố, doanh nghiệp thực hiện công bố trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp, đồng thời gửi thông tin đến cơ quan đại diện chủ sở hữu để công khai trên trang thông tin điện tử của cơ quan đó, trong đó có Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đối với doanh nghiệp thuộc phạm vi quản lý.
Người đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin theo đúng quy định; cơ quan đại diện chủ sở hữu có trách nhiệm theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc công bố thông tin của doanh nghiệp và công khai thông tin do doanh nghiệp gửi đến trong phạm vi quản lý của mình.
Quy trình thực hiện
- Rà soát các loại thông tin phải công bố định kỳ và thông tin bất thường theo quy định của Nghị định 81/2015/NĐ-CP và các văn bản pháp luật liên quan;
- Lập, trình duyệt và phê duyệt báo cáo tài chính năm, báo cáo tài chính bán niên, báo cáo tình hình quản trị doanh nghiệp và các báo cáo liên quan theo thẩm quyền;
- Công bố thông tin trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp trong thời hạn theo quy định kể từ khi báo cáo được phê duyệt;
- Gửi báo cáo, tài liệu công bố đến cơ quan đại diện chủ sở hữu, cơ quan tài chính cùng cấp và các cơ quan, tổ chức có liên quan theo quy định;
- Rà soát các sự việc bất thường phát sinh trong quá trình hoạt động và công bố kịp thời theo yêu cầu của cơ quan đại diện chủ sở hữu;
- Lưu trữ hồ sơ công bố thông tin, theo dõi thời hạn công bố của từng kỳ và cập nhật thông tin khi có thay đổi.
Lưu ý quan trọng
-
Công bố thông tin là nghĩa vụ bắt buộc của doanh nghiệp nhà nước; doanh nghiệp công bố chậm, công bố sai hoặc công bố không đầy đủ các nội dung theo quy định sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.
-
Nội dung công bố phải trung thực, chính xác, đầy đủ và đúng thời hạn; khi có thay đổi, doanh nghiệp phải cập nhật và công bố bổ sung thông tin kịp thời.
-
Cần phân biệt rõ thông tin định kỳ và thông tin bất thường để áp dụng đúng trình tự, thời hạn và hình thức công bố tương ứng, tránh nhầm lẫn dẫn đến vi phạm nghĩa vụ.
-
Người đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp chịu trách nhiệm trước cơ quan đại diện chủ sở hữu về việc tổ chức thực hiện nghĩa vụ công bố thông tin của doanh nghiệp.
-
Doanh nghiệp cần thường xuyên theo dõi, cập nhật các văn bản quy phạm pháp luật mới thay thế, sửa đổi, bổ sung các quy định về công bố thông tin của doanh nghiệp nhà nước để áp dụng cho phù hợp.
-
Bài viết chỉ mang tính tham khảo; tùy theo loại hình doanh nghiệp, ngành, lĩnh vực hoạt động, doanh nghiệp cần đối chiếu các quy định pháp luật chuyên ngành hiện hành trước khi thực hiện.
Nội dung bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Để được tư vấn cụ thể cho từng trường hợp, vui lòng liên hệ với Luật An Dân Việt hoặc cơ quan có thẩm quyền.